Dòng Chúa Cứu thế Việt Nam

I. Những nét chính trong lịch sử Dòng Chúa Cứu thế ở Việt Nam

 

1. “Tất cả vì người nghèo”

Hồi thế kỷ 18, khi đi tĩnh tâm ở vùng núi Scala, Italy, tu sĩ Alphonsus Liguori đã gặp những nông dân, mục đồng miền núi sống rất nghèo khổ, nhưng lại rất sùng đạo. Vì vậy, ngày 9 tháng 11 năm 1732, tại vương quốc Napoli, ông cùng một nhóm linh mục nhiệt thành lập một dòng tu mới, ban đầu đặt tên là “Dòng Chúa Cứu chuộc”, sau đổi thành “Dòng Chúa Cứu thế” (DCCT). Dòng này đặt mục đích truyền đạo cho những người nghèo khổ, cô thân. Họ chọn câu “Tất cả vì người nghèo” làm phương châm hành động.

Từ đó đến nay, DCCT tập trung truyền đạo cho các tầng lớp ở dưới đáy xã hội, như người nghèo, người ở tù, người bị bỏ rơi, người bị bệnh phong, người nhiễm AIDS… Để việc truyền đạo hiệu quả hơn, DCCT không chỉ dựa vào các tổ chức tu viện đơn thuần, mà còn lập ra nhiều hội đoàn từ thiện và các dạng tổ chức chính trị – xã hội khác. Ba mũi nhọn phát triển hiện tại của họ là ba vựa người nghèo của thế giới: Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latin. Hiện nay, họ có khoảng 6500 tu sĩ ở 77 nước.

Dòng Chúa Cứu thế ở Việt Nam cũng được thành lập theo phương châm và khuynh hướng đó.

Năm 1923, theo yêu cầu của Giám mục Henry Lecroart, Khâm sai Tòa thánh tại Việt Nam, Chủ tịch Thánh bộ Truyền giáo Vatican là Hồng y Van Rossum (vốn thuộc DCCT) đã cho thành lập Dòng Chúa Cứu thế tại Việt Nam. Tỉnh dòng thánh Anna Beaupre (Canada) được giao thực hiện nhiệm vụ thành lập đó. Ngày 30 tháng 11 năm 1925, hai linh mục và một thầy đồng trợ của DCCT ở Canada được gửi đến Đông Dương. Dòng này dần phát triển và lan rộng từ ba trung tâm ban đầu, là ba “đền Đức Mẹ” ở ấp Thái Hà (Hà Nội), ở Huế, và ở Kỳ Đồng (Sài Gòn). Đến năm 1964, DCCT Việt Nam mới trở thành một tỉnh dòng độc lập.

Năm 2016, DCCT được giao cai quản 14 giáo xứ của giáo phận Kon Tum ở Tây Nguyên, Việt Nam. Đây có thể là kết quả của một trong hai, hoặc cả hai hai lý do chính. Thứ nhất, do thực hiện phương châm chung của DCCT trên toàn thế giới, DCCT Việt Nam đã ưu tiên truyền đạo cho các sắc tộc thiểu số, bao gồm những người Thượng ở vùng Tây Nguyên, trong một thời gian khá dài. Thứ hai, từ đầu thập niên 2000 đến nay, Tây Nguyên đã liên tục là một trong những nơi chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất ổn chính trị nhất trong cả nước. Trong số các biến cố chính trị phát sinh từ Tây Nguyên, phải kể đến các cuộc bạo loạn của hàng vạn người Thượng theo đạo Tin Lành trong năm 2001, 2004, và phong trào phản đối dự án khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên. Có thể DCCT, lực lượng Công giáo chống chính quyền một cách lâu dài và hiệu quả nhất ở Việt Nam, đã hướng đến Tây Nguyên để khai thác kho mâu thuẫn sôi sục đó.

 

2. Đặt trọng tâm vào truyền thông

Một điểm đặc trưng quan trọng, hiện diện trong suốt lịch sử của dòng Chúa Cứu thế Việt Nam, là việc dòng này luôn đặt trọng tâm vào truyền thông, dùng truyền thông để hỗ trợ truyền đạo và xây dựng tầm ảnh hưởng chính trị. Trong lễ ra mắt chi nhánh Houston của Truyền thông Chúa Cứu thế vào năm 2012, phần phát biểu của linh mục Lê Ngọc Thanh, linh mục đặc trách về truyền thông của DCCT TP.HCM, có đoạn (3):

“Từ năm 1935, tức là mới sau 10 năm sau khi thành lập, thì DCCT Việt Nam đã dấn thân vào truyền thông rồi, và truyền thông trở thành một cái ‘máu’ của DCCT vì nó là cơ hội giúp cho dân Chúa được nhiều nhất.”

Vào thời điểm hiện tại (đầu năm 2018), “truyền thông Chúa Cứu thế” vẫn đang được xem là một trong những đơn vị truyền thông mạnh, được đào tạo chuyên nghiệp, có cơ sở vật chất dồi dào và hoạt động bền bỉ nhất trong các phong trào chính trị đối lập ở Việt Nam. Hằng năm, “truyền thông Chúa Cứu thế” cũng mở các lớp dạy truyền thông, để đào tạo cho nhiều nhóm đối lập cả trong lẫn ngoài đạo Công giáo.

Đế chế truyền thông của DCCT Việt Nam ra đời vào ngày 1 tháng 7 năm 1935, khi dòng này xuất bản một tờ nguyệt san bằng chữ quốc ngữ mang tên “Đức Bà hằng cứu giúp” ở Hà Nội (1). Số báo đầu tiên in 2000 bản, khổ nhỏ, 24 trang, giá bán 1 đồng 1 năm. Đến năm 1940, mỗi số báo được in 5000 bản. Con số này cho thấy đây là một tờ báo lớn và có ảnh hưởng vào thời đó, vì khi đó số người Việt Nam biết chữ không nhiều.

Trong số bốn tôn chỉ được những người sáng lập vạch ra cho tờ báo, tôn chỉ đầu tiên là “rao giảng lời Chúa cho người nghèo khổ bằng ngôn ngữ bình dân”. Đây cũng là tôn chỉ quan trọng nhất, và giúp phân biệt “truyền thông Chúa Cứu thế” với những lực lượng truyền thông Công giáo khác.

Vì khi tờ báo thành lập vào năm 1935, DCCT chưa có linh mục người Việt nào, nên các linh mục người Canada phải phụ trách toàn bộ mảng truyền thông. Linh mục Joseph Laplante là chủ bút kiêm chủ nhiệm đầu tiên, phụ trách cả việc tập hợp bài viết, kiểm duyệt, biên tập, dàn trang lẫn phát hành. Ông Đông Bích, một cây bút của tờ Trung Hòa Nhật báo, phụ trách dịch các bài viết bằng tiếng Pháp của Laplante và các linh mục người Canada khác ra tiếng Việt.

Năm 1944, khi Nhật chiếm đóng Việt Nam, tờ báo bị đình bản sau khi ra số 105. Năm 1949, tờ báo được tái bản, in khổ lớn (khổ A4), dưới tên mới là “Đức Mẹ hằng cứu giúp”. Vào thời điểm này, chủ bút của tờ báo là linh mục Vũ Ngọc Bích. Báo được in từ 1000 đến 2000 bản vào những ngày mới tái bản, rồi lên đến con số 50.000 bản vào cuối thập niên 1950.

Vào năm 1954, khi Việt Nam bị chia đôi do hiệp định Geneva, có khoảng 1 triệu người miền Bắc di cư vào Nam, trong đó có 800.000 người Công giáo. Mọi dòng tu ở miền Bắc đều di tản, chỉ trừ một số đại diện của DCCT ở Thái Hà (Hà Nội). Số ở lại bao gồm hai linh mục người Canada, linh mục Vũ Ngọc Bích, và hai tu sĩ người Việt. Trong số này, hai linh mục người Canada lần lượt bị trục xuất vào các năm 1958 và 1959, cùng những linh mục ngoại quốc cuối cùng ở miền Bắc Việt Nam. Hai tu sĩ người Việt đều bị bắt đi tù vào đầu thập niên 1960, trong đó có một người chết trong tù.

Do biến cố năm 1954, tòa soạn của tờ “Đức Mẹ hằng cứu giúp” được chuyển từ Thái Hà, Hà Nội vào Kỳ Đồng, Sài Gòn. Ngoài các nhà văn Công giáo, ban biên tập mới của tờ báo cũng bao gồm nhiều nhà văn quân đội. Trong thập niên 1960 và 1970, tủ sách Tuổi Hoa và chương trình “Mỗi quân nhân, một Thánh kinh” là hai đều sản phẩm truyền thông của DCCT Kỳ Đồng được đông đảo giới trẻ và quân nhân miền Nam Việt Nam biết đến (3).

Năm 1963, linh mục Chân Tín, một người có quan điểm chính trị trung lập, được bổ nhiệm làm giám đốc tờ “Đức Mẹ hằng cứu giúp”. Vì quan điểm trung lập của ông Tín không được ưa thích bởi những người Công giáo ở miền Nam Việt Nam, nhất là những người di cư từ miền Bắc vào, ông làm cả tờ báo bị độc giả phản đối. Vì vậy, ông phải bàn giao lại tờ báo cho một linh mục khác.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ban truyền thông của DCCT Việt Nam ngừng hoạt động. Đến năm 1998, khi Internet bắt đầu phổ biến ở Việt Nam, truyền thông Chúa Cứu thế mới bắt đầu hoạt động trở lại, nhưng ban đầu chỉ giới hạn dưới hình thức email (3). Đến năm 2005, dưới sự thúc đẩy của linh mục Phạm Trung Thành, DCCT Việt Nam mới mở trang chuacuuthe.com. Trang này trở thành nơi đưa tin chính khi DCCT ở Thái Hà đụng độ với chính quyền trong hai vụ tranh chấp đất đai vào năm 2008 và 2011, và trở thành một trang truyền thông quan trọng trong phong trào chính trị đối lập ở Việt Nam kể từ đó.

Ngoài trang web vừa kể, hiện truyền thông Chúa Cứu thế còn có nhiều trang khác, như Tin Mừng Cho Người Nghèo, ducme.tv và Radio An Phong.

Ngoài những nội dung liên quan đến việc truyền đạo và đòi đất đai của dòng, các hoạt động truyền thông của DCCT Việt Nam từ năm 2005 đến nay thường khai thác mâu thuẫn giữa chính quyền với các gương mặt đối lập ở Việt Nam, các cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa và các nhóm nông dân bất mãn. Truyền thông Chúa Cứu thế thường mô tả các đối tượng vừa kể như những nhóm người cùng khổ, bị chính quyền áp bức và tước đoạt. Song song với việc bênh vực và ca ngợi các đối tượng này trên mặt báo, DCCT Việt Nam cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động tiếp xúc, giao lưu với họ, và cung cấp nhiều lợi ích vật chất cho họ dưới danh nghĩa hoạt động thiện nguyện. Chẳng hạn, từ sau biến cố vào năm 2008 ở nhà thờ Thái Hà đến nay, DCCT ở Hà Nội và TP.HCM đã thường xuyên cung cấp nơi ở cho các nhân vật đối lập đang trốn tránh chính quyền, và cung cấp địa điểm để họ tổ chức những buổi hội thảo bất hợp pháp. Từ khi ra đời vào năm 2013, Văn phòng Công lý & Hòa Bình của DCCT Kỳ Đồng đã thường xuyên “cố vấn pháp lý” miễn phí cho các đoàn nông dân khiếu kiện tập thể, và hỗ trợ truyền thông cho các cuộc biểu tình của họ. Ngày 28 tháng 4 năm 2014, văn phòng này tổ chức một sự kiện mang tên “Ngày tri ân thương phế binh Việt Nam Cộng hòa”, trong đó họ hỗ trợ 1 triệu đồng/người cho tổng cộng 435 cựu binh (4). Phương châm “tất cả vì người nghèo” của DCCT đã phát huy tác dụng trong môi trường Việt Nam: từ năm 2011 đến nay, dòng này đã cải một lượng lớn các gương mặt đối lập Việt Nam sang đạo Công giáo.

 

3. Nhận định: Một dòng tu dân túy có thù với chính quyền

Vì sao ngay từ khi được thành lập vào năm 1932, DCCT đã dùng khẩu hiệu “Tất cả vì người nghèo”, và đã tập trung truyền đạo cho những người nghèo, người bị bỏ rơi, hay những tầng lớp ở dưới đáy xã hội? Khi một tổ chức tôn giáo đưa ra khẩu hiệu, và theo đuổi khuynh hướng kể trên, người ta thường đưa ra một trong ba lối giải thích. Một: môi trường giáo dục của tổ chức này khiến họ thật lòng yêu thương người nghèo hơn các tổ chức tôn giáo khác. Hai: họ tin rằng đời sống khổ hạnh, nghèo đói giúp các tu sĩ dễ tiến bộ hơn về mặt tâm linh. Ba: họ tin rằng so với các tầng lớp khác trong xã hội, người nghèo dễ gia nhập tôn giáo hơn, nên truyền đạo cho họ sẽ dễ hơn.

Xem xét các đặc điểm của DCCT trên thế giới và ở Việt Nam, chúng ta thấy lối giải thích thứ ba có vẻ hợp lý nhất. Thứ nhất, vì trước thập niên 1975, truyền thông Chúa Cứu thế yêu quý những đồng đạo no đủ ở miền Nam hơn những người Cộng sản nghèo đói ở miền Bắc, rõ ràng việc yêu thương người nghèo của DCCT không tách rời việc truyền đạo, và DCCT không yêu thương người nghèo ngoài Công giáo một cách thật tâm. Thứ hai, vì DCCT không phải là một dòng tu khổ hạnh, có thể thấy họ không thật sự tin rằng những người sống trong cảnh khổ hạnh, bần hàn sẽ dễ tiến bộ về mặt tâm linh hơn những người khác. Thứ ba, có nhiều bằng chứng cho thấy ngay từ khi tu sĩ Alphonsus Liguori thành lập DCCT, ông đã chủ động nhắm đến người nghèo vì tin rằng họ dễ gia nhập tôn giáo hơn các tầng lớp trên. Chính DCCT cũng thừa nhận việc này, khi kể rằng Alphonsus đã lập dòng sau khi gặp những nông dân, mục đồng miền núi sống nghèo khổ nhưng sùng đạo. Thêm vào đó, cần lưu ý rằng DCCT được thành lập vào thế kỷ 18, khi cuộc cách mạng nghệ thuật thời Phục hưng và cách mạng khoa học – kỹ thuật kế sau đó đã khiến cả châu Âu xét lại quyền lực của giáo hội, và các cuộc cách mạng dân chủ sắp xảy đến, đưa quyền lực thế tục lên ngôi. Vào thời điểm đó, rõ ràng những người dân nghèo, ít học, ít được tiếp cận thông tin ở miền núi sẽ sùng đạo hơn những người dân thành thị thường xuyên tiếp cận với nghệ thuật, khoa học và tin tức.

Ngoài ra, nếu DCCT thật sự quan tâm đến người nghèo, thì họ đã dồn tiền cho các hoạt động thiện nguyện hướng đến người nghèo nói chung, thay vì chỉ hướng đến những nhóm dân nghèo có chung lợi ích chính trị với họ. Nếu DCCT muốn đạt được tiến bộ tâm linh bằng phương thức khổ hạnh, họ đã thường xuyên tịnh khẩu như nhiều dòng tu khổ hạnh trong Công giáo, thay vì xây dựng một đế chế truyền thông. Việc DCCT Việt Nam đặt trọng tâm vào truyền thông, và kết hợp truyền thông với từ thiện để lôi kéo các nhóm dân nghèo bất mãn cải đạo sang Công giáo, cho thấy tính dân túy của dòng này. Khẩu hiệu “Tất cả vì người nghèo” của họ thực ra không phục vụ người nghèo, mà phục vụ việc truyền giáo.

Thêm vào đó, qua lịch sử của DCCT ở Thái Hà trong giai đoạn 1954 – 1975, qua việc hoạt động của cả báo “Đức Mẹ hằng cứu giúp” lẫn Văn phòng Công lý & Hòa bình đều gắn chặt với giới quân nhân Việt Nam Cộng hòa, và việc linh mục Chân Tín bị buộc phải rời ghế giám đốc tòa soạn của tờ “Đức Mẹ hằng cứu giúp” vì quan điểm chính trị trung lập của ông, có thể thấy DCCT có hận thù dai dẳng với chính quyền Việt Nam, và truyền thông Chúa Cứu thế bị hận thù định hướng.

Tính dân túy và khuynh hướng thù hận này ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích của các nhóm dân nghèo mà DCCT Việt Nam tiếp cận. Sau khi được DCCT giúp đỡ, các gương mặt chính trị đối lập và các nhóm dân nghèo bất mãn thường không có đời sống khá hơn. Thay vào đó, họ ngày càng bị cuốn sâu vào các xung đột với chính quyền, bị cắt kế sinh nhai, và tự cô lập mình với phần còn lại của xã hội. Chẳng hạn, các nhóm nông dân khiếu kiện tập thể được DCCT cố vấn về mặt pháp lý thường thua kiện, và trở thành các nhóm biểu tình dai dẳng, thay vì đòi lại được đất để trở về canh tác. Những gương mặt đối lập được DCCT cải đạo sang Công giáo thường trở nên cực đoan, ít cởi mở, chậm tiến hơn, và tự cô lập mình trong cộng đồng Công giáo và cộng đồng chống Cộng.

 

Chú thích:

(1) http://www.academia.edu/32390110/Nguy%E1%BB%87t_san_%C4%90%E1%BB%A9c_M%E1%BA%B9_H%E1%BA%B1ng_C%E1%BB%A9u_gi%C3%BAp

(2) http://diemtinvn.blogspot.com/2011/11/lich-su-nha-dong-chua-cuu-va-giao-xu.html

(3) https://chuacuuthemedia.wordpress.com/2012/01/13/khai-tr%C6%B0%C6%A1ng-truy%E1%BB%81n-thong-dong-chua-c%E1%BB%A9u-th%E1%BA%BF-vi%E1%BB%87t-nam-t%E1%BA%A1i-houston-tx/

(4) http://vietnamvanquan.blogspot.com/2014/04/uc-ket-ngay-tri-thuong-phe-binh-viet.html


 

II. Những di sản của Vũ Khởi Phụng

Khi đưa tin về biến cố Thái Hà năm 2008 – 2011 và các sự vụ khác liên quan đến Dòng Chúa Cứu thế (DCCT) Việt Nam, báo chí chính thống trong nước thường mô tả các linh mục của dòng này như một khối người đồng nhất, chống chính quyền một cách mặc định. Tuy nhiên, nếu nhìn lại toàn bộ lịch sử của DCCT Việt Nam, ta sẽ thấy có một tu sĩ phủ bóng lên toàn bộ các diễn biến sôi động kể trên. Đó là ông Vũ Khởi Phụng, cựu chủ bút báo “Đức Mẹ hằng cứu giúp” giai đoạn 1970 – 1975, và cũng là người giữ chức Bề trên tu viện DCCT Thái Hà từ năm 2008, ngay trước khi vụ đòi đất trong năm này nổ ra, cho đến gần ngày ông mất.

Theo bản tiểu sử chính thức của ông Vũ Khởi Phụng, được lưu trong Văn khố Trung ương của DCCT tại Rome (1), và theo bài viết về ông của linh mục Nguyễn Văn Khải (2), thì cuộc đời của ông Phụng có một số nét đáng lưu ý như sau:

 

1. Gia đình có thù với chính quyền

Cha và mẹ ông Phụng đều thuộc các gia đình có chức quyền, thân hệ thống thuộc địa của người Pháp trước năm 1945. Cha ông Phụng là người Công giáo gốc ở làng Trung Lao, Nam Định, tốt nghiệp tú tài ở Pháp và trường Luật Đông Dương. Mẹ ông là người ngoài Công giáo, học đạo với các tu sĩ DCCT ở Huế, và làm lễ rửa tội ở Sài Gòn. Sau khi cưới nhau, hai ông bà chuyển đến Thanh Hóa, nơi cha ông Phụng làm tri phủ Tĩnh Gia. Vì vậy, ông Vũ Khởi Phụng được sinh ở Thanh Hóa vào ngày 5 tháng 11 năm 1940.

Năm 6 tuổi, ông Phụng được gửi vào trường tiểu học của giáo xứ Trung Lao, thuộc giáo phận Bùi Chu ở quê ông. Kể từ đó, ông Phụng tiếp tục học lên cao hơn trong hệ thống giáo dục Công giáo. Từ năm 1952, khi ông học Tiểu Đệ tử ở DCCT Thái Hà, môi trường học tập, thông tin và tiếp xúc của ông hoàn toàn thu hẹp lại trong DCCT Việt Nam.

Vì cha ông Phụng là một quan thanh liêm, được dân yêu quý và có tinh thần dân tộc, vào năm 1945, chính phủ liên hiệp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục mời ông làm công chức ở Thanh Hóa. Tuy nhiên, trong đợt thanh trừng các lực lượng chính trị đối lập vào năm 1946, ông bị bắt và giam ở Hà Tĩnh. Đến 27 năm sau, khi hiệp định Paris được ký kết vào năm 1973, cha ông Phụng mới được thả.

Năm 1954, ông Phụng và các em đều di cư vào miền Nam theo DCCT hoặc người thân bên Công giáo, trong khi mẹ ông ở lại miền Bắc để lo cho chồng đang đi tù. Cảnh ly tán của gia đình ông Phụng vẫn tiếp diễn sau năm 1975, khi ông Phụng tiếp tục ở lại DCCT TP.HCM, trong khi em gái ông đi di tản, em trai ông đi tù vì là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa, trước khi cũng đi di tản. Ông Phụng chỉ được gặp lại cha mẹ từ năm 1990, khi các thay đổi chính trị khiến việc đi lại giữa hai miền dễ dàng hơn.

Như vậy, do hoàn cảnh lịch sử, Vũ Khởi Phụng nằm trong số những người Công giáo có mối thù với chính quyền Việt Nam. Ngoài mối thù liên quan đến gia đình, ông Phụng còn kế thừa những mối thù của DCCT Thái Hà và của truyền thông Chúa Cứu thế thân quân đội miền Nam, như đã đề cập ở mục trước.

 

2. Cây bút kỳ cựu của truyền thông Chúa Cứu thế

Trong bài viết về cuộc đời ông Vũ Khởi Phụng (2), linh mục Nguyễn Văn Khải mô tả ông Phụng là “người có sức viết dồi dào hiếm thấy”. Không chỉ vậy, ông Phụng còn “quan niệm rằng linh mục thời nay phải mang sách Phúc âm trên một tay, còn tay kia mang tờ báo”.

Trong thực tế, ông Vũ Khởi Phụng đã làm báo trong suốt đời làm linh mục của mình. Ngay sau khi được thụ phong linh mục vào năm 1970, ông Phụng đã đảm nhiệm chức Thư ký Tòa soạn và Chủ bút của báo “Đức Mẹ hằng cứu giúp”. Sau đó, khi tờ báo này phải đóng cửa vào năm 1975, ông vẫn tiếp tục “thường xuyên viết bài cho các báo Công giáo trong và ngoài nước”, đồng thời “thường xuyên trả lời phỏng vấn của các hang thông tấn, các đài báo quốc tế”. Ông Khải cho biết nhiều bài viết và trả lời phỏng vấn của ông Phụng có thể được tìm thấy trong danh mục của các tuyển tập kê khai tư liệu liên quan đến Việt Nam.

Linh mục Phạm Trung Thành, môn sinh của ông Phụng (3), chính là người đã hồi sinh hoạt động truyền thông của DCCT Việt Nam qua việc cho ra đời trang chuacuuthe.com vào năm 2005. Sau cột mốc này, ông Phụng tiếp tục trực tiếp làm truyền thông, và giữ những vai trò tối quan trọng trong bộ máy truyền thông của DCCT. Cụ thể, sau khi chuyển về Hà Nội để giữ chức Bề trên tu viện DCCT Thái Hà từ năm 2008, ông Vũ Khởi Phụng liên tục giữ thêm chức Trưởng ban Truyền thông của tu viện (2008 – 2011), và chức Trưởng ban Truyền thông DCCT Việt Nam (2011 – 2015). Giai đoạn đương chức của ông Phụng cũng chính là giai đoạn mà tu viện Thái Hà trải qua hai vụ đòi đất vào năm 2008, 2011, và truyền thông Chúa Cứu thế trở thành một thế lực mạnh trong phong trào chính trị đối lập Việt Nam. Trong khi đó, thời điểm ông Phụng thôi giữ chức Bề trên của tu viện Thái Hà (vào năm 2015) trùng với một đợt “thay máu” trong nội bộ DCCT Việt Nam (4), trong đó ông Phạm Trung Thành mất chức Giám tỉnh DCCT Việt Nam, chương trình “Trợ giúp Thương phế binh” của dòng bị dừng, và nhân sự truyền thông của dòng bị thay thế (5), để nhường chỗ cho những nhân vật sẵn sàng đối thoại với chính quyền hơn.

Theo lời linh mục Nguyễn Văn Khải, thì ông Phụng không chỉ có năng lực báo chí, mà còn “có quan điểm đúng đắn về truyền thông”. Cụ thể, ông Phụng cho rằng “báo chí là một phương thế để rao giảng Tin mừng”, và “tòa giảng hay tòa báo đều là nơi thi hành sứ vụ”. Như vậy, ông Vũ Khởi Phụng coi báo chí như một công cụ để tuyên truyền quan điểm chính trị, tôn giáo của mình, thay vì coi báo chí như một phương tiện đưa tin khách quan.

 

3. Người tổ chức sinh hoạt văn hóa, giáo dục cho nhiều nhóm thanh niên Công giáo

Trong suốt sự nghiệp của mình, ông Vũ Khởi Phụng đã nhiều lần đảm nhiệm các công việc đào tạo của DCCT Việt Nam. Chẳng hạn, ông tổ chức và phụ trách dạy giáo lý dự tòng tại giáo xứ ở TP.HCM trong giai đoạn 1975 – 1993 (trước khi lên chức Bề trên tu viện DCCT ở TP.HCM và Phó Giám tỉnh DCCT Việt Nam vào năm 1993). Từ năm 2005 đến năm 2008, ông làm Trưởng Ban Đào tạo DCCT Việt Nam, Giám học Học viện Thánh Alphonsus và Giám đốc Hậu học viện. Có lẽ những ngày làm công tác đào tạo của dòng, cộng với những ngày làm truyền thông Chúa Cứu thế (vốn có ảnh hưởng lớn trong giới trẻ Công giáo từ trước năm 1975) đã cho phép ông thường xuyên tiếp xúc và xây dựng quan hệ với các nhóm thanh niên Công giáo. Bản tiểu sử chính thức của ông Phụng có đoạn:

“Từ năm 1975 đến 2008, khi kín đáo, khi công khai, ngài đồng hành với một số các nhóm sinh viên và  một số nhóm tông đồ giáo dân khác cùng lúc  tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn, tham gia cổ vũ và tổ chức các chương trình văn hóa, giáo dục và tông đồ cho giới trẻ”.

 

4. Một người định hướng nền nghệ thuật Công giáo ở Việt Nam

Theo mô tả của linh mục Nguyễn Văn Khải, thì Vũ Khởi Phụng là một người đam mê nghệ thuật. Ông có làm thơ, và đã sáng tác nhiều bài thánh ca Công giáo. Trước khi bị tai nạn gãy chân, ông Phụng thường đi xem triển lãm tranh và xem phim hằng tuần. Ông cũng thường xuyên đọc những tác phẩm văn chương đoạt giải Nobel hoặc đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam để “nắm bắt thời sự văn chương”, “tiếp cận thực tại xã hội”, và hỗ trợ việc truyền đạo. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông Phụng đã khuyến khích việc sáng tác văn chương Công giáo bằng nhiều hoạt động, chẳng hạn như tổ chức những buổi giới thiệu văn chương Công giáo, với số tác phẩm được giới thiệu đôi lúc lên đến 30. Ông Nguyễn Tầm Thường, một nhà văn Công giáo ở hải ngoại, cho biết sự nghiệp sáng tác của ông đã bắt đầu khi gửi bài cho báo Tuổi Hoa trước năm 1975, rồi được ông Phụng gửi thư khen văn hay và khuyến khích tiếp tục sáng tác. Những năm cuối đời ở Hà Nội, ông Phụng chơi thân với ông Nguyễn Hoàng Đức, người vốn làm trong ngành an ninh trước khi cải đạo sang Công giáo và trở thành nhà văn.

 

5. Một nhà hoạt động chống chế độ

Linh mục Nguyễn Văn Khải khẳng định ông Vũ Khởi Phụng “là một linh mục dấn thân, chứ không phải là một công chức văn phòng”. Theo ông Khải, thì ông Phụng chính là một trong những người gửi thư đề nghị Hội đồng Giám mục Việt Nam thành lập Ủy ban Công lý và Hòa bình vào năm 2010, để làm tiền đề cho DCCT Kỳ Đồng thành lập Văn phòng Công lý và Hòa bình và năm 2013. Để giải thích lý do ông Phụng đề nghị thành lập ủy ban này và tham gia các hoạt động có cùng khuynh hướng, bài của ông Khải có đoạn sau:

“Ngài chủ trương dấn thân mưu tìm CÔNG LÝ, SỰ THẬT VÀ HÒA BÌNH, là bởi vì ngài xác tín rằng cái gốc rễ của của những đổ vỡ và rối loạn về mọi phương diện hiện nay trong xã hội Việt Nam đều phát xuất từ BẤT CÔNG, DỐI TRÁ VÀ BẠO LỰC do chế độ đang và đang chủ trương thi hành”.

Như vậy, theo ông Khải, thì ông Phụng cho rằng mọi vấn đề của xã hội Việt Nam đều do chế độ hiện hành của Việt Nam gây ra. Ông Phụng đề nghị thành lập Ủy ban Công lý và Hòa bình, làm truyền thông, và tham gia các hoạt động vì công lý, hòa bình khác là để chống chế độ.

Có lẽ chính vì những hoạt động chính trị theo khuynh hướng này của ông Phụng, và việc ông giữ một vai trò quan trọng trong phong trào chính trị đối lập Việt Nam, mà một viên chức chính trị của Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội đã gửi thư chia buồn khi ông Phụng mất vào năm 2016 (6). Bức thư có đoạn: “Những gì mà Cha Phụng và toàn thể cộng đoàn giáo xứ Thái Hà đã làm sẽ tiếp tục tạo nguồn cảm hứng cho tôi”.

*

Qua những dữ kiện trên, có thể thấy ông Vũ Khởi Phụng, linh mục DCCT Việt Nam, đã để lại cho dòng này nhiều di sản quan trọng về mặt tinh thần và mặt tổ chức.

Về mặt tinh thần, ông Phụng đã ấn định khuynh hướng chính trị của tu viện DCCT Kỳ Đồng và Thái Hà, hai nơi mà ông từng giữ chức Bề trên lần lượt trong giai đoạn 1993 – 1999 và 2008 – 2015. Theo đó, cả hai tu viện này đều ôm giữ, và bị thúc đẩy bởi, những mối thù cũ với chế độ hiện nay ở Việt Nam. Lý do cốt lõi, ngầm ẩn khiến họ theo đuổi các hoạt động chống chế độ một cách cực đoan và dai dẳng chính là lòng hận thù này, chứ không phải là “công lý, sự thật và hòa bình”, quyền sở hữu đất đai, nhân quyền hay tự do tôn giáo.

Về mặt tổ chức, ông Phụng và những môn sinh thân tín của ông, như linh mục Phạm Văn Thành, đã đặt nền tảng cho hai trụ cột quyền lực quan trọng của DCCT Việt Nam hiện nay, là truyền thông Chúa Cứu thế và Văn phòng Công lý & Hòa bình. Chắc chắn ông Phụng cũng có dấu ấn đáng kể trong một trụ cột quyền lực khác, là các nhóm thanh niên Công giáo, nhưng những dấu ấn này hiện không dễ tra ra.

 

Chú thích:

(1) http://giaoxutanviet.com/tieu-su-cha-mattheu-vu-khoi-phung-duoc-doc-trong-nghi-thuc-nhap-quan/

(2) http://conggiao.info/nho-cha-mattheu-vu-khoi-phung-d-34284

(3) https://tonggiaophanhanoi.org/on-thien-trieu/dong-nam/6575-thanh-le-ky-niem-50-nam-khan-dong-linh-muc-mat-theu-vu-khoi-phung

(4) http://vokhanhlinh98.blogspot.com/2015/04/dong-chua-cuu-co-tan-giam-tinhzan-chu.html

(5) http://www.memaria.net/20150418080405DN.html

(6) http://old.danchimviet.info/archives/101490/dsq-hoa-ky-gui-thu-phan-uu-viec-linh-muc-matthew-vu-khoi-phung-tu-tran/2016/03


 

III. Các trụ cột quyền lực quan trọng và dấu ấn của Vũ Khởi Phụng

Như mục trên đã đề cập, quyền lực chính trị của DCCT Việt Nam được đặt trên ít nhất ba trụ cột quan trọng, là truyền thông Chúa Cứu thế, Văn phòng Công lý & Hòa bình, và các nhóm sinh viên Công giáo. Do năng lực và điều kiện hạn chế, chúng tôi chưa có nhiều thông tin về các nhóm sinh viên Công giáo liên quan đến DCCT Việt Nam. Vì vậy, mục này sẽ chỉ nói sơ qua về hai trụ cột quyền lực còn lại, đồng thời chỉ ra dấu ấn của ông Vũ Khởi Phụng và các cộng sự trong các trụ cột này.

 

1. Truyền thông Chúa Cứu thế

Năm 1970, ngay sau khi được phong linh mục, ông Vũ Khởi Phụng giữ chức Thư ký Tòa soạn kiêm Chủ bút báo “Đức Mẹ hằng cứu giúp”, tờ báo chính của truyền thông DCCT Việt Nam. Ông liên tục giữ hai vị trí này cho đến năm 1975, khi tờ báo bị đóng cửa. Trong suốt những năm sau đó, ông Phụng được cho là vẫn tiếp tục làm báo, khi viết và trả lời phỏng vấn nhiều đài báo công giáo nước ngoài (1).

Năm 1998, khi Internet bắt đầu phổ biến ở Việt Nam, truyền thông Chúa Cứu thế được hồi sinh. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, nó chỉ được giới hạn trong hình thức thư điện tử. Phải đến năm 2005, khi website chuacuuthe.com được thành lập nhờ sự thúc đẩy của linh mục Phạm Trung Thành, truyền thông Chúa Cứu thế mới thật sự hoạt động mạnh trở lại (2).

Ông Phạm Trung Thành, người kẻ vạch nối giữa truyền thông Chúa Cứu thế trước và sau năm 1975, vốn là một môn sinh thân tín của ông Vũ Khởi Phụng. Trong lễ kỷ niệm 50 năm khấn dòng của ông Vũ Khởi Phụng, phần phát biểu của ông Thành có đoạn như sau:

“Kính thưa cha, con đứng đây với tư cách là một môn sinh của cha. Con là một trong những môn sinh học được từ nơi cha nhiều nhất bởi chính cha đã nhận con vào tu trong DCCT. Sau nhà tập con lại gặp cha với tư cách là giám đốc, giáo sư học viện”.

Vai trò quan trọng của ông Vũ Khởi Phụng trong việc cho ra đời hệ thống truyền thông của DCCT Việt Nam cũng được các thành viên của hệ thống này xác nhận. Chẳng hạn, ngày 16 tháng 4 năm 2016, trong lễ kỉ niệm 1 năm ngày thành lập trang Tin Mừng Cho Người Nghèo, linh mục Lê Ngọc Thanh khẳng định rằng ông Phụng là “một trong những người tiên phong cho công việc truyền thông của DCCT, và là người cổ vũ mạnh mẽ cho truyền thông bảo vệ sự thật, công lý và hòa bình” (6).

Năm 2008, ông Phạm Trung Thành đắc cử chức Giám tỉnh DCCT Việt Nam (3), và ông Vũ Khởi Phụng được bổ nhiệm làm Bề trên tại tu viện DCCT Thái Hà, Hà Nội (4). Khi ông Phạm Trung Thành tái đắc cử vào năm 2011, ông Vũ Khởi Phụng cũng tiếp tục được giữ chức. Không lâu sau khi ông Vũ Khởi Phụng phải từ chức Bề trên vào năm 2015, sang năm 2015, ông Phạm Trung Thành cũng mất chức Giám tỉnh vào tay ông Vũ Ngọc Bích, khi ông Bích đắc cử chức này. Qua các mốc thời gian kể trên, có thể thấy trong việc chính trị nội bộ của DCCT Việt Nam, hai ông Vũ Khởi Phụng và Phạm Trung Thành song hành với nhau như thể họ là thành viên của cùng một đảng.

Hai năm mà ông Phụng và ông Thành nhậm chức, là 2008 và 2011, cũng là thời điểm mà hai vụ đòi đất của tu viện DCCT ở Thái Hà nổ ra. Việc đòi đất này là chưa có tiền lệ trước nhiệm kỳ của hai ông, và cũng không tiếp diễn từ khi hai ông thôi chức cho đến thời điểm hiện tại.

Theo lời ông Lê Ngọc Thanh, người từng làm linh mục đặc trách truyền thông của DCCT TP.HCM, thì khi hai vụ đòi đất ở Thái Hà vào năm 2008 và 2011 diễn ra, chính trang chuacuuthe.com đã “trở thành nơi cung cấp chính thức cho tin tức thời sự hằng ngày”, “làm cho những lời nói dối của truyền thông nhà nước bị phát hiện” (2). Qua lời ông Thanh, có thể thấy giữa truyền thông Chúa Cứu thế và hoạt động biểu tình đòi đất của tu viện Thái Hà có sự liên quan chặt chẽ với nhau.

Không lâu sau khi hai ông Vũ Khởi Phụng và Phạm Trung Thành nhậm chức, và vụ đòi đất đầu tiên của tu viện Thái Hà nổ ra, vào tháng 6 năm 2009, Công hội DCCT Việt Nam đã họp tại tu viện Kỳ Đồng và ra một quyết định quan trọng. Theo thông tin được cung cấp bởi linh mục Đinh Hữu Thoại, người từng phụ trách Văn phòng Công lý & Hòa bình của DCCT TP.HCM, thì quyết định này có nội dung nguyên văn như sau (3):

“A. Về việc dấn thân cho người nghèo và các nạn nhân của xã hội hiện đại.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm lo cho những người bị áp bức và việc thăng tiến các quyền cơ bản của họ trong công bằng và tự do, theo quy định của Hiến pháp DCCT các số 4 và 5.

Yêu cầu Hội Đồng Tỉnh đẩy mạnh trong toàn Tỉnh Dòng việc nghiên cứu và học hỏi giáo huấn về xã hội của Hội Thánh.

Trao cho Hội Đồng Quản Trị Tỉnh trách nhiệm thành lập Ủy ban Công lý và Hoà bình của Tỉnh DCCT Việt Nam, trực thuộc Hội Đồng Quản Trị Tỉnh.

Khuyến khích việc thiết lập các phòng tư vấn với sự cộng tác của các chuyên viên trong các lãnh vực liên hệ.

Đề nghị các cộng đoàn DCCT ở các địa phương có những hoạt động thích hợp và hữu hiệu để bảo vệ hoặc mưu tìm công lý và sự thật cho các cá nhân và tập thể đang là nạn nhân của bất công và dối trá.

B. Về lãnh vực truyền thông

Yêu cầu Hội Đồng Tỉnh đẩy mạnh công việc đào tạo (dài hạn và ngắn hạn) hầu có đủ nhân sự thích hợp cho lãnh vực hoạt động tông đồ đặc biệt này.

Yêu cầu Hội Đồng Tỉnh nhanh chóng thành lập một nhóm có nhiệm vụ nghiên cứu và đề xuất một dự án cụ thể cho hoạt động tông đồ của Tỉnh Dòng trong lãnh vực truyền thông; dự án đó phải được đệ trình Hội Đồng Tỉnh càng sớm càng tốt.

Hội Đồng Tỉnh có nhiệm vụ hỗ trợ về nhân lực và tài lực cho lãnh vực tông đồ này”.

Theo ông Đinh Hữu Thoại, thì chính quyết định này đã mở đường cho việc thành lập Ban Công lý & Hòa bình và Ban Truyền thông của DCCT Việt Nam, cũng như làm tiền đề để thành lập Văn phòng Công lý & Hòa bình của DCCT TP.HCM bốn năm sau đó.

Tháng 5 năm 2014, tổ chức Phóng viên Không Biên giới công bố danh sách 100 người được phong danh hiệu “Anh hùng thông tin” trong năm. Trong 3 người Việt Nam thuộc sanh sách này, có ông Lê Ngọc Thanh, linh mục phụ trách truyền thông của DCCT TP.HCM. Khi trả lời phỏng vấn đài RFI nhân sự kiện, ông Thanh nhắc lại định hướng dân túy của truyền thông Chúa Cứu thế: “đứng về phía người nghèo, loan báo Tin mừng một cách mới mẻ cho người nghèo”. Theo lời ông Thanh, các nhóm dân chúng mà truyền thông của DCCT Việt Nam ủng hộ bao gồm “dân oan, những người bị oan sai, những người bị đối xử bất công, bị bắt bớ một các bất hợp pháp”. Như vậy, truyền thông của DCCT Việt Nam không hướng đến những người nghèo nói chung, hoặc người nghèo phi chính trị, mà hướng đến các nhóm dân chúng tự coi mình là nạn nhân của chính quyền.

Cũng trong bài phỏng vấn này, ông Thanh cho biết dưới tay ông có một loạt cộng tác viên “thường xuyên có mặt ở các điểm nóng”. Hầu hết số này là những người trẻ, bao gồm cả một số người trong nhóm 14 thanh niên Công giáo, Tin lành bị bắt ở giáo phận Vinh năm 2012 vì tham gia các hoạt động của đảng Việt Tân.

Về công tác huấn luyện và tổ chức của nhóm mình, ông Thanh tiết lộ:

“Chúng tôi quy tụ các bạn trẻ có nhiệt huyết để dấn thân cho hoạt động truyền thông. Ban đầu chúng tôi huấn luyện họ để biết thế nào là một nền truyền thông chân chính, chứ không phải truyền thông định hướng, truyền thông công cụ. Rồi chúng tôi hướng dẫn cho họ những kỹ năng cơ bản nhất về viết bài, về quay phim, về chụp hình. Rồi với những ai có thể gắn bó sâu hơn, chúng tôi bắt đầu dạy viết những kịch bản phóng sự, biên tập phim và sản xuất phim. Chúng tôi huấn luyện khá kỹ từng lĩnh vực riêng biệt”.

Ông cũng cho biết các cộng tác viên của truyền thông Chúa Cứu thế bao gồm hai loại. Đối với các cộng tác viên không chuyên, tức những người đã có việc làm, ông cung cấp mỗi tuần một buổi huấn luyện. Trong khi đó, những người tâm huyết được ông phát triển thành nhân viên chính thức:

“Nhóm thứ hai là những người thật sự muốn dấn thân, sống chết với truyền thông, thì chúng tôi đưa họ vào hẳn một hệ thống của chúng tôi, như là những nhân viên, phóng viên của chúng tôi, để được huấn luyện và dấn thân”.

Trong thực tế, các khóa huấn luyện về truyền thông của linh mục Lê Ngọc Thanh không chỉ đào tạo nhân viên và cộng tác viên cho truyền thông Chúa Cứu thế, mà còn đào tạo nhân sự cho nhiều nhóm chính trị đối lập khác ở Việt Nam.

Ngoài ra, theo lời ông Thanh, các nhóm nông dân khiếu kiện tập thể cũng chủ động cung cấp thông tin về những vụ việc của họ cho truyền thông Chúa Cứu thế.

 

2. Văn phòng Công lý & Hòa bình

Ngày 6 tháng 1 năm 1967, Giáo hoàng Paul VI thành lập một cơ quan mang tên “Ủy ban Giáo hoàng về Công lý & Hòa bình”. Quyết định này nhằm đáp lại đề xuất của Công đồng Vatican II về việc thành lập một tổ chức của Giáo hội để “thúc đẩy sự phát triển ở những vùng nghèo khổ và gia tăng công lý trong bối cảnh quốc tế”. Hoạt động của ủy ban này xoay quanh ba mảng lớn, là công lý, hòa bình và nhân quyền.

Như đã đề cập trong mục trên, vào tháng 6 năm 2009, sau khi họp tại tu viện Kỳ Đồng, Công hội DCCT Việt Nam đã ra quyết định thành lập Ủy ban Công lý & Hòa bình của DCCT Việt Nam. Ban Truyền thông của DCCT Việt Nam cũng được thành lập theo quyết định đó.

Một năm sau, vào tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giám mục Việt Nam tuyên bố thành lập Ủy ban Công lý & Hòa bình Việt Nam. Theo lời tự giới thiệu của ủy ban này, thì nó “có mối tương quan mật thiết” với Ủy ban Giáo hoàng về Công lý & Hòa bình về mặt mô hình và đường hướng (8). Tuy nhiên, lời giới thiệu trên cũng nhấn mạnh rằng hai tổ chức này “độc lập với nhau và không lệ thuộc vào nhau”.

Theo lời linh mục Nguyễn Văn Khải của DCCT, thì linh mục Vũ Khởi Phụng chính là một trong nhứng người đầu tiên “sớm gửi thư kiến nghị Hội đồng Giám mục Việt Nam” mạnh dạn thành lập Ủy ban Công lý & Hòa bình” (1). Qua việc ủy ban của DCCT Việt Nam ra đời trước 1 năm so với ủy ban của Hội đồng Giám mục Việt Nam, có thể thấy lời ông Khải có cơ sở.

Ngày 15 tháng 5 năm 2012, Ủy ban Công lý & Hòa bình của Hội đồng Giám mục Việt Nam ra một văn bản mang tên “Nhận định một số tình hình tại Việt Nam hiện nay”. Sau khi đưa ra các nhận xét bất lợi cho chính quyền, văn bản này đưa ra một số đề xuất, như “sửa đổi luật đất đai, thay đổi lề lối làm việc và lối áp đặt độc đoán của chính quyền, xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội công dân năng động, trọng dụng nhân tài, cho các tôn giáo được có tính cách pháp nhân và được tham gia vào các lãnh vực giáo dục và y tế”.

Năm ngày sau, ngày 20 tháng 5, ông Vũ Khởi Phụng tung ra một bài bình luận về sự kiện, do chính ông chấp bút (9). Phần đầu bài có những đoạn mang đậm tính bè phái và tính công kích, như sau:

“Từ dăm năm nay, trong nước cũng như ngoài nước, có những dư luận tiêu cực, đôi khi được bày tỏ một cách rất nặng lời, về Giáo Hội Việt Nam. Khá nhiều người cho rằng Giáo Hội Việt Nam, và đặc biệt là hàng giáo phẩm, chỉ lo lễ bái và xây cất, mà dần dần trở nên xa lạ và vô cảm với những nhân tố đang đục khoét, đang lũng đoạn tinh thần và tâm linh của xã hội Việt Nam. Chúng ta không câm nhưng cam tâm làm giáo hội thầm lặng. Có người dùng đến từ “chó câm”, nghe rất xấc xược, nếu chúng ta không kịp nhớ lại rằng đó là một điển Thánh Kinh (Is 56, 10), mới đây còn được Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI dùng lại.

Dư luận như thế, nếu không đúng, thì cũng rất tai hại cho thanh danh và mức độ khả tín của Giáo Hội, còn nếu đúng thì lại càng tai hại bội phần, bởi nó tố cáo một tình trạng muối đã lạt, đèn đã tàn”.

Sau đó, bằng một thái độ đắc thắng có phần trịch thượng, ông Phụng khéo léo tuyên bố rằng nhờ bản nhận định này, phe chủ chiến của ông đã giành được chính danh trong nội bộ Công giáo Việt Nam. Ông viết:

“Bản Nhận Ðịnh của Ủy Ban Công Lý Hòa Bình rõ ràng mang dấu ấn của một công trình tập thể, có tác dụng cải chính luồng dư luận tai hại về một thái độ vô tri hoặc vô cảm của Giáo Hội và hàng giáo phẩm. Nó cho thấy các đấng bậc vẫn quan tâm đến vận mệnh con người, xã hội, đất nước, mặc dù trong nhiều trường hợp chẳng biết vì nguyên nhân nào các ngài đã yên lặng đến mức khó hiểu”.

“Giá trị của bản Nhận Ðịnh là ở chỗ nó là tiếng nói của Hội Ðồng Giám Mục, chứ không phải là ý kiến của cá nhân hoặc một tập thể riêng lẻ nào trong giáo hội. Giáo sĩ lẫn giáo dân có thể học hỏi nó mà không có cảm giác ngờ ngợ sợ mình bị những tham vọng hoặc ý đồ nào lôi kéo. Cái cảm giác ngờ ngợ đó nhiều khi chẳng dựa trên một cơ sở cụ thể nào, chỉ sợ bóng sợ vía thế thôi, nhưng cũng đủ để làm cho nhiều người co cụm, không dám suy nghĩ gì, cũng không dám có thái độ hay hành động gì trước những nguy cơ của thời đại. Lần này thì chẳng những an tâm mà còn được giáo quyền chỉ cho thấy những nhiệm vụ đang mời gọi mình”.

Trong phần cuối của bài, ông Vũ Khởi Phụng kêu gọi dân Công giáo thực hiện các đề xuất trong bản nhận định bằng một số biện pháp mà Ủy ban Công lý & Hòa bình của Hội đồng Giám mục không hề đưa ra. Cụ thể, ông đề nghị các hội đoàn Công giáo góp phần hình thành “xã hội dân sự” để tạo ra thay đổi chính trị:

“Bản Nhận Ðịnh đã nêu lên một tinh thần, còn trong hành động thì vẫn luôn cần đến sự năng động của “xã hội dân sự”. Chẳng biết những nhóm học hỏi giáo huấn xã hội của Giáo Hội, các nhóm hoạt động phục vụ xã hội, các người Công giáo đang dấn thân trong các sinh hoạt đa dạng của cộng đồng có tiềm năng góp phần tạo nên cái xã hội dân sự đó hay không? Phải chăng các giáo xứ, hội đoàn, các nhóm thân hữu cũng nên ngồi lại với nhau để cùng nghiên cứu, suy nghĩ, và gầy dựng những sáng kiến mới?”

Ông Phụng cũng gợi ý rằng giáo dân nên làm chính trị, đấu tranh cho nhân quyền theo tiếng gọi của đức tin:

“Đúng là hiện nay nhà thờ mở cửa, đông đúc, và như thế cũng bảo đảm một phần quyền tự do tôn giáo hiểu theo nghĩa là phụng tự, kinh nguyện; nhưng nếu đức tin đẩy ta đến chỗ phải có thái độ về những chuyện liên quan đến công bình xã hội, nhân phẩm, nhân quyền thì sao? Ðối với ta, tự do sống đạo bao gồm cả những lãnh vực đó nữa, nhưng có người sẽ bảo những lãnh vực đó không phải là tôn giáo thì sao?”

Qua thái độ đắc thắng mà ông Phụng thể hiện trong bài viết, và việc ông hướng dẫn giáo dân cách thi hành văn bản một cách không ngượng ngùng, có thể coi sự ra đời của bản nhận định này như một chiến thắng chính trị của ông Phụng trong nội bộ Công giáo Việt Nam.

Chưa đầy một năm sau, ngày 24 tháng 3 năm 2013, tu viện Kỳ Đồng của DCCT TP.HCM khai trương Văn phòng Công lý & Hòa Bình. Lễ khai trương do linh mục Phạm Trung Thành chủ trì, và có hòa thượng Thích Không Tánh, người tổng phụ trách các hoạt động từ thiện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến dự (10). Trong buổi lễ, linh mục Đinh Hữu Thoại không quên mượn sự ra đời của Ủy ban Công lý & Hòa bình (thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam) để làm nền tảng chính đáng cho việc thành lập văn phòng mà ông phụ trách. Ông Thoại cho biết văn phòng này sẽ giúp đỡ “những người mất đất, bị tù tội oan chỉ vì dám nói lên sự thật trong xã hội” bằng cách hỗ trợ truyền thông và tư vấn pháp luật cho họ. Khi nói đến những người “bị tù tội oan”, dường như ông Thoại muốn đề cập đến những người đã đi tù vì tham gia các phong trào chính trị bất hợp pháp.

Sau khi Văn phòng Công lý & Hòa bình của DCCT Kỳ Đồng ra đời, các blog ủng hộ chính quyền thường mô tả DCCT Kỳ Đồng như một “trụ sở” chung của cả các hội đoàn chống Cộng lẫn các nhóm tôn giáo có mâu thuẫn với chính quyền khác, như Giáo hội Phật giáo Thống nhất và Phật giáo Hòa hảo (11). Có lẽ hiện tượng này xuất phát từ các hoạt động của Hội đồng Liên tôn, một hội đồng hình thành từ sáng kiến của một tín đồ Hòa Hảo, và được cả ông Đinh Hữu Thoại lẫn ông Thích Không Tánh tham gia. Ông Nguyễn Bắc Truyển, một tín đồ Hòa Hảo thân Hội đồng Liên tôn, cũng là thiện nguyện viên của Văn phòng Công lý & Hòa bình.

Khi trả lời phỏng vấn trang Dân Làm Báo vào năm 2014, ông Đinh Hữu Thoại xác nhận rằng ngoài việc “giúp đỡ dân oan”, Văn phòng Công lý & Hòa bình cũng đang có những nỗ lực để “liên tôn”, nghĩa là liên kết các tôn giáo (12). Tất nhiên, các nhóm tôn giáo liên kết với DCCT đều có mâu thuẫn và hận thù với chế độ.

Cũng theo các blog ủng hộ chính quyền, thì DCCT Kỳ Đồng có cả một “biệt khu” bất khả xâm phạm, trang bị đầy đủ công nghệ. Đây là nơi các nhân vật đối lập tìm đến để trốn tránh chính quyền, và cũng là nơi các nhóm đối lập tổ chức các buổi họp, hội thảo, hay lễ kỷ niệm bất hợp pháp.

Ngày 28 tháng 4 năm 2014, Văn phòng Công lý & Hòa bình đã tổ chức một sự kiện mang tên “Ngày tri ân thương phế binh VNCH”. Qua từ “tri ân” trong cái tên, có thể thấy đây không đơn thuần là một hoạt động từ thiện, mà là một tuyên ngôn chính trị. Bằng sự kiện này, DCCT tuyên bố rằng họ ủng hộ phe Việt Nam Cộng hòa, và coi đây là phe chính nghĩa trong cuộc chiến trước năm 1975. Tương tự buổi tri ân này, các linh mục DCCT cũng đã nhiều lần tổ chức lễ giỗ ông Ngô Đình Diệm, một tổng thống Việt Nam Cộng hòa theo đạo Công giáo và có nhiều chính sách thiên vị dân Công giáo.

Để chuẩn bị cho buổi tri ân nêu trên, Văn phòng Công lý & Hòa bình đã quyên góp được tổng cộng 587.390.000 VNĐ, để tặng phần quà trị giá 1 triệu VNĐ cho 435 thương binh (13). Tiền quyên góp chủ yếu đến từ những người gốc Việt ở hải ngoại.

Cuối năm 2016, khi trả lời phỏng vấn đài VOA tiếng Việt, linh mục Lê Ngọc Thanh tiết lộ rằng chương trình “Tri ân thương phế binh Việt Nam Cộng hòa” cũng nằm trong khuôn khổ những hoạt động “liên tôn” của Văn phòng Công lý & Hòa bình. Bài trên VOA có đoạn như sau (20):

“Theo linh mục Lê Ngọc Thanh chương trình Tri Ân Thương phế binh Việt Nam Cộng hòa lần đầu tiên thực hiện vào năm 2012, xuất phát từ hoạt động hỗ trợ cho cho thương phế binh do chùa Liên Trì thực hiện, hỗ trợ cho khoảng 100 thương phế binh. Do bị công an Việt Nam ngăn chặn không cho các thương phế binh đến chùa nhận gạo, một số người tuy đến được nhưng đã bị tịch thu gạo. Lúc đó Hòa thượng Thích Không Tánh của chùa Liên trì đã đề nghị Dòng Chúa Cứu thế thực hiện tiếp chương trình này. Sau đó con số tăng dần theo các năm: năm 2013 có 250 người, năm 2014 có 500 người, năm 2015 có 1.300 người và năm nay 2016 có 5.000 người”.

 

3. “Thay máu”

Sau hai vòng bầu cử, ngày 5 tháng 11 năm 2015, linh mục Nguyễn Ngọc Bích đắc cử chức Giám tỉnh của Tỉnh dòng Chúa Cứu thế Việt Nam, nhiệm kỳ 2015 – 2018. Ông Bích nhậm chức vào ngày 15 tháng 1 năm 2015. Ngay sau khi mất chức Giám tỉnh vào tay ông Bích, linh mục Phạm Trung Thành cho biết ông đã “xin nghỉ một thời gian để chữa bệnh”, và sẽ không can dự vào công việc nội bộ của dòng (15). Không lâu sau đó, khi ông Vũ Khởi Phụng mãn nhiệm chức Bề trên của tu viện DCCT Thái Hà, ông cũng mất chức này vào tay linh mục Trịnh Ngọc Hiên, và cũng xin nghỉ để chữa bệnh.

Ngay sau khi nhậm chức Giám tỉnh, ộng Nguyễn Ngọc Bích ra hai quyết định quan trọng.

Thứ nhất, ông thay thế toàn bộ nhân sự Ban Truyền thông của DCCT Việt Nam. Linh mục Lê Ngọc Thanh, người từng phụ trách ban này trong nhiều năm, bị mất chức. Ban Truyền thông mới của DCCT nhanh chóng đóng cửa trang Facebook cũ của Truyền thông Chúa Cứu thế, để lập một trang mới.

Thứ hai, ông Bích ngăn ông Đinh Hữu Thoại tổ chức chương trình “Tri ân thương phế binh Việt Nam Cộng hòa” năm 2015. Cụ thể, khi ông Thoại đã gửi thư mời 152 thương binh VNCH đến khám sức khỏe tại nhà sách của DCCT Kỳ Đồng vào ngày 17 tháng 4 năm 2015, thì linh mục Vũ Trọng Phiệt, giám đốc nhà sách, hạ tất cả poster xuống với lý do rằng “cha Giám tỉnh không cho phép làm”. Trong khi đó, khi trả lời phỏng vấn đài RFA (15), ông Nguyễn Ngọc Bích lại tuyên bố rằng ông “không cấm chuyện giúp đỡ anh em thương phế binh”, “ai làm thì cứ làm, không sao hết”. Tuy nhiên, ông Bích lưu ý rằng khi tổ chức sự kiện, nhóm ông Thoại “cần có sự đồng ý của người chịu trách nhiệm” tại địa điểm, tức linh mục phụ trách nhà sách của tu viện Kỳ Đồng. Nói cách khác, khi ngăn ông Thoại tổ chức chương trình “Tri ân thương phế binh”, ông Phiệt nói ông chỉ làm theo lệnh của ông Bích, còn ông Bích lại đá quả bóng trách nhiệm cho ông Phiệt.

Trên RFA, ông Đinh Hữu Thoại cho biết “quyết định bất ngờ” của ông Nguyễn Ngọc Bích “để lại rất nhiều thiệt hại cho thương phế binh về mặt tâm lý, về mặt tinh thần” (15). Theo ông Thoại, khi ông gọi điện để thông báo hủy chương trình, các thương binh đều đã chuẩn bị lên đường, thậm chí có người đã ngồi trên xe khách. Trong bức thư xin lỗi các thương binh đến dự chương trình, ông Thoại giải thích như sau (16):

“Cha giám tỉnh Giuse Nguyễn Ngọc Bích quyết định từ nay không cho phép khám chữa bệnh cho thương phế binh với danh nghĩa DCCT nữa. Đồng nghĩa với cũng không được xử dụng các cơ sở của nhà dòng, để thực hiện các hoạt động tri ân thương phế binh Việt Nam Cộng hòa”.

Trước những quyết định gây tranh cãi của ông Nguyễn Ngọc Bích, nhiều gương mặt chính trị đối lập ở Việt Nam đã phản ứng một cách gay gắt. Trên RFA, ông Huỳnh Công Thuận dọa ông Bích (15):

“Riêng anh em chúng tôi những người thiện nguyện viên có viết một thư ngỏ nhưng chưa công bố để gửi cha Giám tỉnh yêu cầu cha tiếp tục cho phép ủng hộ thương phế binh, giúp đỡ những người dân oan, những người cơ nhỡ, những người khó khăn bị xã hội ruồng bỏ đúng như chương trình cũng như truyền thống của DCCT. Chúng tôi định gửi cho cha nhưng nếu cha Bích không trả lời, không giải quyết thì chúng tôi sẽ gửi đi Tòa thánh Roma”.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh phỏng đoán một cách bi quan (16):

“Ngay sau sự kiện buộc ngừng khám bệnh cho thương phế binh, còn có nhiều tin tức nói rằng chẳng bao lâu nữa, nội dung lễ Công lý và Hòa Bình hàng tháng sẽ bị kiểm duyệt chặt chẽ. Phòng truyền thông Chúa cứu thế VNRs và phòng Công lý & Hòa Bình cũng sẽ đóng cửa hoặc bị kiểm soát theo kiểu ra lệnh áp đặt. Các nhân viên thư viện cũng sẽ bị đuổi việc và thay bằng người mới “đáng tin cậy” hơn. Dưới sự kiểm soát của linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Bích, có vẻ đang có một cuộc “thay máu”, mà mọi thứ như chỉ để thuần phục trước cuộc đời thế tục bên ngoài”.

Ông Nguyễn Công Huân, chủ trang Dân Luận cảm thán (16):

“Buồn vì Dòng Chúa Cứu Thế tại Sài Gòn, đặc biệt là văn phòng Công Lý & Hòa Bình và phòng Truyền Thông đã là bạn đồng hành với anh em Dân Chủ trong thời gian vừa qua, nay lại bị đóng cửa và kiểm soát chặt chẽ… Anh em có người từng đùa đây là mảnh đất tự do cuối cùng tại Sài Gòn, vậy mà nay nó đã không còn ủng hộ tự do…”.

Đến năm 2016, bà Huỳnh Thục Vy vẫn viết trên Facebook như sau (17):

“Em trai tôi là Huỳnh Trọng Hiếu đã bị đuổi khỏi chỗ trọ cũ (nhà của nhà dòng Dòng chúa Cứu thế) như là hệ luỵ tất yếu của việc thay đổi lãnh đạo dòng tu này vào năm ngoái”.

Ông Huỳnh Trọng Hiếu cũng nằm trong số những gương mặt đối lập từng tạm trú trong DCCT Kỳ Đồng để trốn tránh chính quyền, như phần trên có đề cập.

Trong năm 2015, ông Đinh Hữu Thoại được thuyên chuyển về một nhiệm sở mới, là vùng rừng núi Trà My, Tiên Phước, Quảng Nam.

Ngày 16 tháng 4 năm 2015, không lâu sau khi ông Nguyễn Ngọc Bích nhậm chức giám tỉnh, và đúng thời điểm ông Bích ngăn ông Thoại tổ chức chương trình “Tri ân thương phế binh VNCH” trong nhà dòng, nhóm truyền thông cũ của ông Lê Ngọc Thanh thành lập một trang tin mới mang tên “Tin mừng cho người nghèo”. Ông Lê Ngọc Thanh làm cố vấn của trang, trong khi linh mục Lê Xuân Lộc giữ chức Giám đốc, và linh mục Trương Hoàng Vũ giữ chức Phó Giám đốc. ông Lê Xuân Lộc từng được đào tạo về truyền thông ở Mỹ, còn ông Trương Hoàng Vũ từng được đào tạo về truyền thông mục vụ ở Philippines, và làm cho Đài Chân lý Á châu trong thời gian đó (18).

Nhóm thực hiện trang “Tin mừng cho người nghèo” dường như có khá ít thiện cảm với ông tân Giám tỉnh Nguyễn Ngọc Bích. Trong một bài viết được đăng trên trang này hồi cuối năm 2015, cây bút Vũ Sinh Hiên đề cập đến ông Bích bằng những lời lẽ như sau (19):

“Nay thì chức vụ Bề Trên Giám Tỉnh được chuyển giao cho Linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Bích, người đã chịu chức “chui” cùng với Linh mục Thành 25 năm về trước. Vị Tân Bề Trên Giám Tỉnh đã muốn áp dụng đường lối “đối thoại” với Nhà Cầm Quyền Cộng Sản thay vì đấu tranh cho sự thật và công lý”.

“Người xưa đã dạy: ‘Đi với Bụt thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy’. (…) Linh mục Bề Trên Giám Tỉnh DCCT Việt Nam và Ban Thường Vụ Tỉnh Dòng vẫn mặc ‘áo cà sa’ để đối thoại với ‘ma’.”

Tuy nhiên, chính sách chủ hòa triệt để của linh mục Nguyễn Ngọc Bích đã không được áp dụng lâu dài. Trong năm 2015, để thực hiện dự án “Khu phức hợp Thương mại – Căn hộ – Khách sạn Tropicana Nha Trang”, chính quyền tỉnh Khánh Hòa đã cho đập phá tu viện DCCT ở Nha Trang, một địa điểm mà họ nắm quyền sở hữu từ năm 1978. Dù ông Nguyễn Ngọc Bích đã gửi thư cho Thủ tướng Chính phủ để đề nghị được giữ lại tu viện, tu viện vẫn bị đập khi chính phủ chưa có bất cứ động thái giải quyết nào (19). Có lẽ chính vì lý do này, và vì tác động từ cuộc “cách mạng cá” mà Việt Tân và Giáo phận Vinh đồng tổ chức từ giữa năm 2016, mà trong năm 2016, nhóm chủ chiến trong DCCT Việt Nam lại trở lại hoạt động mạnh như xưa. Ông Lê Ngọc Thanh, người đã thành công trong việc giữ lại hệ thống truyền thông Chúa Cứu thế cũ, thay ông Đinh Hữu Thoại phụ trách Văn phòng Công lý & Hòa bình. Văn phòng này tiếp tục tổ chức nhiều buổi tri ân thương phế binh Việt Nam Cộng hòa ngay trong khuôn viên của tu viện DCCT. Khi trả lời phỏng vấn về các chương trình giúp đỡ thương binh trong năm 2016, ông Thanh cho biết (20):

“Chúng tôi đã mua bảo hiểm y tế cho 947 ông, đã tổ chức tầm soát sức khỏe cho 1.644 ông, cấp 101 xe lăn và 119 xe lắc, cùng với 239 cặp nạng, 215 gậy, 228 chân giả, 1071 cặp mắt kính, 515 máy đo huyết áp, hỗ trợ viện phí cho 210 người, phúng điếu tại 72 đám tang, sửa 29 căn nhà, và xây mới 19 căn nhà.”

Ông Thanh cũng cho biết vào tháng 1 năm 2017, chương trình sẽ tiếp tục vươn xa hơn về phía Bắc, khi tri ân 300 thương binh ở một loạt các tỉnh miền Trung, gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng. Các tỉnh này tình cờ bao quanh trị sở mới của ông Đinh Hữu Thoại.

Cũng nhờ cuộc “cách mạng cá” của đảng Việt Tân và Giáo phận Vinh, mà trong năm 2016, truyền thông Chúa Cứu thế hoạt động khá sôi động ở ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Ngày 4 tháng 10 năm 2016, linh mục Đặng Hữu Nam, người tổ chức nhiều cuộc biểu tình quy tụ hàng trăm giáo dân ở Nghệ An (21), đã ký một hóa đơn nhận tiền có nội dung như sau (22):

“Tôi, linh mục An tôn Đặng Hữu Nam, quản xứ Phú Yên, thuộc xã An Hòa, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An đã nhận từ Linh mục An tôn Lê Ngọc Thanh 5 khoản với số tiền: 348.250.000 đồng, 10.900 đô la và 300 EURO”.

 

Chú thích:

(1) http://conggiao.info/nho-cha-mattheu-vu-khoi-phung-d-34284

(2) https://chuacuuthemedia.wordpress.com/2012/01/13/khai-tr%C6%B0%C6%A1ng-truy%E1%BB%81n-thong-dong-chua-c%E1%BB%A9u-th%E1%BA%BF-vi%E1%BB%87t-nam-t%E1%BA%A1i-houston-tx/

(3) http://www.dcvonline.net/2015/05/04/phong-van-lm-dinh-huu-thoai-dcct-sai-gon/

(4) http://giaoxutanviet.com/tieu-su-cha-mattheu-vu-khoi-phung-duoc-doc-trong-nghi-thuc-nhap-quan/

(5) http://vi.rfi.fr/viet-nam/20140505-truyen-thong-chua-cuu-the-dan-than-vi-tu-do-thong-tin

(6) http://danlambaovn.blogspot.com/2016/04/to-bao-ien-tu-tin-mung-cho-nguoi-ngheo.html

(7) https://yeumensuthat.wordpress.com/2011/05/27/h%E1%BB%99i-d%E1%BB%93ng-giao-hoang-v%E1%BB%81-cong-ly-va-hoa-binh/

(8) http://conglyvahoabinh.com/article.aspx?id=29

(9) http://www.binhgia.org/2012/05/e-huong-ung-nhan-inh-cua-uy-ban-cong-ly.html

(10) https://www.danluan.org/tin-tuc/20130326/dong-chua-cuu-the-sai-gon-khai-truong-phong-cong-ly-va-hoa-binh

(11) http://www.trelangblog.com/2015/01/ong-hanh-cung-dan-toc-kieu-giao-hoi.html

(12) http://danlambaovn.blogspot.com/2014/01/phong-cong-ly-va-hoa-binh-nhung-no-luc.html

(13) http://vietnamvanquan.blogspot.com/2014/04/uc-ket-ngay-tri-thuong-phe-binh-viet.html

(14) http://giesu.net/home/lm-giuse-nguyen-ngoc-bich-tan-giam-tinh-dong-chua-cuu-the-viet-nam/

(15) https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/saigon-redemptorist-suspends-the-wounded-soldier-support-programs-04172015103446.html

(16) http://vokhanhlinh98.blogspot.com/2015/04/dong-chua-cuu-co-tan-giam-tinhzan-chu.html

(17) http://www.vnnew.net/2016/06/o-loi-cho-ban-lanh-ao-moi-cua-dong-chua.html

(18) http://www.tinmungchonguoingheo.com/blog/2016/04/21/tro-chuyen-ngay-thoi-noi-cung-voi-gnsp/

(19) http://www.tinmungchonguoingheo.com/blog/2015/12/17/nha-nuoc-cong-san-dang-doi-thoai-voi-dong-chua-cuu-the-viet-nam/

(20) https://nhatbaovanhoa.com/a4991/hang-ngan-thuong-phe-binh-vnch-se-den-dong-chua-cuu-the-ky-dong-du-le-tri-an

(21) http://baonghean.vn/linh-muc-dang-huu-nam-da-lam-gi-o-giao-xu-phu-yen-120417.html

(22) http://truyenhinhnghean.vn/xa-hoi/201703/linh-muc-dang-huu-nam-dung-tien-o-dau-de-gay-roi-699671/


 

IV. Diễn biến hai vụ đòi đất của tu viện Dòng Chúa Cứu thế tại Thái Hà vào năm 2008 và 2011

 

1. Nguồn gốc của vấn đề

Theo thông tin mà giáo xứ Thái Hà cung cấp (1), thì hai vụ tranh chấp đất đai giữa tu viện Thái Hà và chính quyền Hà Nội có nguồn gốc lịch sử từ cuối thập niên 1950. Cụ thể, từ năm 1928, các giám mục người nước ngoài đã mua một khu đất rộng 61.455 m2, thuộc địa phận quận Đống Đa, Hà Nội ngày nay, để xây nhà dòng của dòng Chúa Cứu thế (DCCT). Họ xây xong nhà dòng vào năm 1929, xây thêm một ngôi nhà 3 tầng làm nơi sinh hoạt cho các chủng sinh vào năm 1931, xây nhà thờ Thái Hà vào năm 1935, và xây một ngôi nhà 3 tầng hình chữ L làm nơi giảng dạy của giáo xứ vào năm 1937.

Năm 1954, trong khi mọi dòng tu Công giáo ở miền Bắc Việt Nam đều di cư vào Nam, một số tu sĩ của tu viện DCCT Thái Hà vẫn ở lại. Số này bao gồm linh mục chính xứ Vũ Ngọc Bích, hai linh mục người Canada và hai tu sĩ người Việt. Sau đó, hai linh mục người Canada lần lượt bị trục xuất khỏi Việt Nam vào năm 1958 và 1959, còn hai tu sĩ người Việt dưới quyền ông Bích đều bị bắt đi tù trong thập niên 1960, trong đó có một người chết trong tù.

Theo lời kể của linh mục Nguyễn Ngọc Bích vào năm 2002, thì vào năm 1959, khi các linh mục người nước ngoài không còn ở Hà Nội, đại diện Ủy ban Nhân dân (UBND) quận Đống Đa bắt đầu đến “mượn” tòa nhà xây hình chữ L để làm bệnh viện. Khi ông Bích và tu sĩ Đạt người Việt không đồng ý ký giấy hiến đất, đại diện Ủy ban chọn bừa một giáo dân để ký giấy, rồi đưa học sinh đến và dùng tòa nhà làm trường học vào sáng hôm sau. Đến năm 1960, chính quyền mới dời trường học đi để mở Bệnh viện Đa khoa Đống Đa ở tòa nhà đó.

Chính quyền Hà Nội còn lấy thêm một khu đất của DCCT Thái Hà vào năm 1961 để bàn giao cho Xí nghiệp Dệt thảm Đống Đa (2), và hai khu đất nữa vào các năm 1972 và 1973 để làm chỗ đóng quân cho bộ đội (1). Kết quả là vào năm 2008, khu đất rộng 61.455 m2 ban đầu của DCCT Thái Hà chỉ còn lại 2700 m2.

Ngày 18 tháng 8 năm 1996, sau khi biết tin Xí nghiệp Dệt thảm Đống Đa vừa bán khu đất mượn của DCCT Thái Hà cho Công ty Cổ phần May Chiến thắng, ông Vũ Ngọc Bích viết đơn khiếu nại gửi lên chính quyền. Tuy nhiên, chính quyền không có động thái giải quyết (2).

Cuối năm 2006, vì phát hiện Công ty Cổ phần May Chiến thắng tiếp tục bán khu đất cho một công ty khác, giáo xứ Thái Hà lại tiếp tục gửi đơn khiếu nại lên chính quyền. Tuy nhiên, chính quyền vẫn không giải quyết theo cách mà DCCT cho là thỏa đáng. Theo lời linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong của DCCT Thái Hà (2), thì phía chính quyền tuyên bố rằng ông Vũ Ngọc Bích đã ký giấy bàn giao đất cho họ vào ngày 24 tháng 11 năm 1961. Tuy nhiên, chính quyền lại ký văn bản để bàn giao khu đất cho Xí nghiệp Dệt thảm Đống Đa từ ngày 30 tháng 1 năm 1961, nghĩa 10 tháng trước mốc thời gian trên. Thêm vào đó, chính quyền cũng từ chối công bố giấy bàn giao đất có chữ ký của ông Vũ Ngọc Bích, với lý do đây là “tài liệu mật”. Phía DCCT Thái Hà thường dựa vào những chi tiết này để tuyên bố rằng chính quyền đã “mạo nhận” việc ông Bích giao đất.

 

2. Mâu thuẫn leo thang

Năm 2008, linh mục Phạm Trung Thành đắc cử chức Giám tỉnh DCCT Việt Nam, còn linh mục Vũ Khởi Phụng, thầy ông Thành, được bổ nhiệm làm Bề trên và Trưởng Ban Truyền thông tu viện DCCT Thái Hà. Có lẽ vì lý do này, mà từ năm 2008, giáo xứ Thái Hà bắt đầu tổ chức nhiều hoạt động biểu tình, phản kháng để “đòi” những khu đất kể trên, và DCCT bắt đầu nổi tiếng trong phong trào chính trị đối lập Việt Nam như một trong những nhóm tôn giáo chống chế độ quyết liệt nhất.

Cụ thể, theo lối nói lòng vòng để lách luật của linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong, thì vì “Công ty Cổ phần May Chiến Thắng vi phạm pháp luật”, đầu năm 2008, các “công dân bức xúc” đã đến “cầu nguyện” ở khu đất mà DCCT tranh chấp với công ty này. “Cầu nguyện” xong, các “công dân bức xúc” nêu trên không ra về, mà chiếm đóng luôn khu vực để “canh giữ đất” và “trông cho pháp luật được thực thi” trong vòng 8 tháng liên tiếp. Kết quả là cuối năm đó, 8 giáo dân của xứ Thái Hà đã bị bắt giữ vì tội “hủy hoại tài sản và gây rối trật tự công cộng”, rồi xử với mức án trải từ cảnh cáo đến tù treo. Nhân phiên tòa này, các linh mục DCCT Thái Hà đã tổ chức một cuộc biểu tình lớn, với sự tham gia của khoảng 1000 giáo dân (3).

Năm 2011, ông Phạm Trung Thành tái đắc cử chức Giám tỉnh, và ông Vũ Khởi Phụng tiếp tục được bổ nhiệm làm Bề trên tu viện DCCT Thái Hà. Không dừng ở đó, ông Phụng còn được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Truyền thông DCCT Việt Nam, một ban mới được thành lập do quyết định của Công hội DCCT Việt Nam vào năm 2009 (4). Có lẽ chính vì lý do này, mà trong năm 2011, các hoạt động biểu tình để “đòi đất” của DCCT Thái Hà trở lại sôi động như hồi năm 2008, khi ông Phụng và ông Thành cùng nhậm chức lần đầu tiên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2011, nhân dịp chính quyền định xây trạm xử lý nước thải cho bệnh viện Đống Đa, linh mục Nguyễn Văn Phượng, chính xứ Thái Hà, đã dựng trên nóc nhà nguyện một tấm bảng điện tử mang nội dung “Yêu cầu Nhà cầm quyền Hà Nội trả lại Tu viện đang mượn làm bệnh viện Đống Đa cho Dòng Chúa Cứu thế và trả lại Hồ Ba Giang cho Giáo xứ Thái Hà” (5). Theo lời ông Nguyễn Thái Sơn, Thanh tra Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, thì khi ông đến nhà thờ Thái Hà để đề nghị gặp ông Phượng nhằm trao đổi về nội dung của tấm bảng trên, ông Phượng đã từ chối gặp và từ chối hợp tác. Khi chính quyền gửi thư mời những người chịu trách nhiệm trong vụ này lên trụ sở để làm việc, họ cũng không trả lời (6).

Không lâu sau, ngày 27 tháng 10, xứ Thái Hà cho 70 linh mục và giáo dân tuần hành từ nhà thờ Thái Hà đến UBND quận Đống Đa để đưa đơn yêu cầu trả đất.

Ngày 31 tháng 10 năm 2011, UBND quận Đống Đa ra quyết định tịch thu tấm biển điện tử, và phạt linh mục Nguyễn Văn Phượng 1,5 triệu VNĐ vì tội “vi phạm trật tự công cộng” khi cho dựng tấm biển này.

Ngày 3 tháng 11, xứ Thái Hà đáp trả bằng cách đâm đơn khởi kiện chính quyền quận Đống Đa về quyết định xử phạt đó. Khi giải thích lý do khởi kiện, linh mục Phượng tuyên bố rằng nội dung của tấm biển điện tử mà ông dựng “hoàn toàn phù hợp với quyền thông tin của người dân được quy định tại điều 69 Hiến pháp, với quyền khiếu nại được quy định tại điều 74 Hiến Pháp, và với Điều 1 Luật Khiếu nại, Tố cáo” (5).

Vào buổi chiều cùng ngày, ở nhà thờ Thái Hà xảy ra một vụ xô xát giữa chính quyền và giáo dân. Cụ thể, theo tưởng thuật của luật sư Lê Quốc Quân (7), một người Công giáo tham gia sâu vào các công việc chính trị của xứ Thái Hà, thì “trên dưới 100 người” mặc thường phục đã xông vào nhà thờ Thái Hà rồi xô xát với các linh mục. Theo lời ông Quân, những người này có trang bị máy quay phim và máy ảnh. Cùng lúc đó, “một lực lượng cảnh sát rất hùng hậu” đứng canh ở khu vực xung quanh nhà thờ, nhưng không can thiệp vào vụ xô xát đang diễn ra. Đoàn người này đã “tự động rút lui” sau khi nhà thờ kéo chuông để gọi giáo dân đổ đến hiện trường. Ông Quân cũng cho biết đám đông giáo dân được huy động bao gồm nhiều “sinh viên Công giáo”.

Trong khi đó, theo các trang ủng hộ chính quyền (8), thì những người “xông vào” nhà thờ Thái Hà là các “cán bộ cơ sở của phường Quang Trung”, bao gồm đại diện của Hội Cựu Chiến binh, Hội Người Cao tuổi, Hội Phụ nữ… Họ đến nhà thờ để đòi gặp linh mục chính xứ Nguyễn Văn Phượng, nhằm phản đối việc ông Phượng ngăn cản chính quyền xây trạm xử lý nước thải của bệnh viện Đống Đa. Tuy nhiên, ông Phượng viện cớ bận để không ra tiếp, trong khi các “giáo dân trông coi nhà thờ” đã gọi thêm người đến bao vây, và định đóng cửa nhà thờ, để nhốt các “cán bộ cơ sở” vừa kể bên trong.

 

3. Hòa giải thất bại

Khi mâu thuẫn trong vụ tranh chấp đất đai giữa tu viện Thái Hà và chính quyền Hà Nội đã lên đến đỉnh điểm, vào lúc 2 giờ chiều ngày 10 tháng 11 năm 2011, một sự kiện bất ngờ đã diễn ra. Tại nhà thờ Thái Hà, bốn đại diện của nhà thờ, là các linh mục Nguyễn Văn Phượng, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Nguyễn Văn Thật và Nguyễn Văn Hiên, đã có buổi gặp để đối thoại với ba đại diện của bệnh viện đa khoa Đống Đa, bao gồm Giám đốc, Phó Giám đốc bệnh viện, và thành viên ban quản lý dự án xây trạm xử lý nước thải (12).

Đáng chú ý,  Văn phòng Luật sư AIC, do luật sư Lê Thanh Sơn đại diện, đã “tự nguyện đứng ra làm trung gian hòa giải” giữa hai bên. Ông Lê Thanh Sơn, người từng du học ở Mỹ và “được Phó Tổng thống Mỹ trao bằng công dân danh dự của nước này” (9), là một luật sư để lại nhiều dấu ấn trên cả truyền thông tôn giáo lẫn trong dư luận chính trị. Về mặt tôn giáo, ông Sơn từng là nhân vật chính trong hai show truyền hình Phật giáo dài một tiếng rưỡi, lần đầu là chương trình “Hoa mặt trời” số 5 vào ngày 19 tháng 8 năm 2014, lần thứ hai là chương trình “Gương sáng” số 10, của khóa tu chùa Giác Ngộ, vào ngày 12 tháng 3 năm 2017 (9). Trong hai chương trình này, ông Sơn dành khá nhiều thời lượng để kể về việc sau một năm học giáo lý Công giáo, ông bỏ đạo này thì thất vọng, để rồi tìm đến với Phật giáo ra sao. Trong chương trình “Hoa mặt trời” số 5, ông Sơn cũng quảng bá tên tuổi cho sư Thích Chúc Minh, người không lâu sau đó bị lộ clip sex. Sau vụ việc, ông Sơn cũng bênh vực sư Thích Chúc Minh trên truyền thông, dù không chính thức là đại diện pháp lý của sư này, khiến có dư luận cho rằng ông Sơn có chân trong dự án xây dựng chùa Từ Tôn trị giá 100 tỷ VNĐ của Thích Chúc Minh.  Trong khi đó, về mặt chính trị, luật sư Lê Thanh Sơn từng viết một số bài về vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc. Ngoài ra, song song với nhóm luật sư của Trần Vũ Hải và Lê Luân, nhóm luật sư của Lê Thanh Sơn cũng đến hiện trường của vụ Đồng Tâm, Mỹ Đức năm 2017 để tiếp xúc với dân chúng. Theo các blog ủng hộ của chính quyền, thì nhóm ông Hải đã có động thái tranh chấp với nhóm ông Sơn trong vụ này (11).

Trong buổi đối thoại giữa nhà thờ Thái Hà và Bệnh viện Đa khoa Đống Đa, với tư cách bên chứng kiến, Văn phòng Luật sư AIC của ông Lê Thanh Sơn đã đề nghị được ghi âm cuộc họp, giữ bản ghi âm, và “không cung cấp cho bất cứ bên báo chí nào hay bất cứ một bên nào khác (12).

Sau đó, với tư cách bên trung gian hòa giải, AIC đã đưa ra bốn đề xuất cho hai bên liên quan. Một: nhà thờ Thái Hà nên ủng hộ và cùng giám sát dự án xây trạm xử lý nước thải, vì đây là một dự án có lợi cho cư dân trong khu vực, bao gồm nhà thờ. Hai: bệnh viện Đống Đa nên dùng tòa nhà nằm sát nhà thờ Thái Hà để xây một trung tâm điều dưỡng hoạt động độc lập về mặt tài chính và tổ chức, với Ban Quản lý gồm cả đại diện của bệnh viện lẫn nhà thờ, và trung tâm này sẽ ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho giáo dân và tu sĩ. Ba: AIC sẽ làm trung gian thiết lập kênh đối thoại giữa bệnh viện và nhà thờ. Bốn: hai bên không đề cập đến vấn đề nguồn gốc của khu đất trong các buổi đối thoại, vì bệnh viện Đống Đa không có thẩm quyền giải quyết vấn đề đó.

Trả lời bốn đề xuất của AIC, linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong cho biết “giáo dân và nhà thờ không chống lại dự án xây trạm xử lý nước thải”. Họ chỉ phản đối vì ban quản lý dự án xây công trình trên khu đất thuộc tài sản của nhà thờ, nhưng lại không hỏi ý kiến nhà thờ về việc đó. Vì vậy, ông Phong đề nghị ban quản lý dự án cung cấp bản thiết kế của trạm xử lý nước thải và các tài liệu liên quan, để nhà thờ và giáo dân nắm được. Ngoài ra, ông Phong đề nghị bệnh viện Đống Đa giữ nguyên trạng khu nhà nguyện mà họ đang sử dụng, vì đây là địa điểm linh thiêng, và đề nghị cho giáo dân vào điều dưỡng để họ được cầu nguyện trong khu nhà nguyện đó.

Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Phượng, linh mục chính xứ Thái Hà, lại thể hiện một thái độ chủ hòa ở mức cao hơn so với ông Phong. Ông Phượng “đánh giá cao việc AIC tự đề cử làm trung gian hòa giải”, đề nghị “mở kênh đối thoại trực tiếp thường xuyên với bệnh viện Đống Đa, để hai bên cùng chia sẻ thông tin và giải quyết tranh chấp, bất đồng”, và đề nghị AIC giúp “tổ chức các kênh đối thoại với các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Y Tế Hà Nội, Sở Công An Thành Phố Hà Nội, UBND Thành Phố Hà Nội, Thành Ủy Hà Nội”.

Đáp lại, ông Giám đốc bệnh viện Đống Đa cho biết ông đồng ý thiết lập kênh đối thoại trực tiếp với nhà thờ Thái Hà. Về đề xuất của AIC trong việc thành lập trung tâm điều dưỡng, ông sẽ xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Y tế. Ông tỏ ra không ủng hộ việc trung tâm điều dưỡng chỉ ưu tiên chăm sóc tu sĩ và giáo dân, vì cho rằng đây là một hình thức phân biệt đối xử đối với bệnh nhân.

Tiếp lời ông Giám đốc, đại diện của ban quản lý dự án xây dựng trạm xử lý nước thải đồng ý cung cấp sơ đồ thiết kế trạm, và sẽ tổ chức một buổi giới thiệu chi tiết về trạm cho các linh mục của nhà thờ Thái Hà.

Cuối buổi gặp, linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong bổ sung ý kiến rằng ông muốn nhờ AIC và bệnh viện Đống Đa làm cầu nối, để giúp nhà thờ Thái Hà tổ chức một buổi đối thoại với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cao hơn, để “giải quyết nguyên nhân sâu xa của tranh chấp”. Ngoài ra, ông Phong cũng “đề nghị Bệnh Viện Đống Đa đưa ra ý kiến với các cơ quan có thẩm quyền về việc di dời Bệnh Viện Đống Đa sang một địa điểm khác và trả lại phần đất thuộc Tu Viện trước đây cho Nhà Thờ Thái Hà”.

Ngày 14 tháng 11 năm 2011, trang chuacuuthe.com của truyền thông Chúa Cứu thế đăng lên một “bản ghi chép” được cho là biên bản của cuộc họp đối thoại nêu trên (12). Trang này cho biết văn bản do “một độc giả” cung cấp, và không có chữ ký của các bên như các biên bản thông thường. Vì “bản ghi chép” này không có chữ ký, và người cung cấp nó phải giấu tên, không loại trừ khả năng nó chính là bản bóc băng của cuốn băng ghi âm cuộc họp. Trong trường hợp giả thuyết này đúng, thì phía truyền thông Chúa Cứu thế đã bí mật ghi âm rồi đơn phương bạch hóa diễn biến cuộc họp, và vi phạm thỏa thuận rằng chỉ có AIC giữ bản ghi âm và không công bố nó cho báo chí.

Chỉ sau đó một ngày, hôm 15 tháng 11, linh mục Nguyễn Văn Phượng đã trả lời phỏng vấn đài RFA về diễn biến của buổi đối thoại (13). Trong buổi phỏng vấn, ông Phượng không nhắc đến đề xuất của AIC về việc hành lập một nhà điều dưỡng độc lập, ưu tiên chăm sóc giáo dân và tu sĩ, do bệnh viện và nhà thờ phối hợp quản lý; cũng như việc ban quản lý dự án trạm xử lý nước đã tỏ thiện chí bằng cách đồng ý cung cấp bản thiết kế trạm và tổ chức buổi giới thiệu chi tiết về trạm cho các linh mục. Thay vào đó, ông Phượng nhấn mạnh ba điểm. Thứ nhất, giáo xứ Thái Hà luôn khẳng định rằng khu đất chứa bệnh viện Đống Đa là của tu viện DCCT Thái Hà. Thứ hai, ông Phượng mong chính quyền di chuyển bệnh viện Đống Đa đi nơi khác, để trả lại đất cho nhà thờ, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng cấp thiết của giáo xứ. Thứ ba, ông Phượng mong muốn mở thêm kênh đối thoại với các cơ quan chính quyền. Về điểm này, phần trả lời phỏng vấn của ông Phượng có đoạn sau:

“Tôi thấy với những rục rịch như là loa đài, truyền thông lề phải, côn đồ vào nhà thờ chúng tôi thì tôi nghĩ về bản chất chưa có gì là khác mấy đâu. Nhưng tôi không biết đây là những công việc của cấp dưới làm hay do cấp trên chỉ đạo. Tôi nghĩ các vị lãnh đạo cấp trên thì không có những chỉ đạo như vậy. Nếu các vị lãnh đạo cấp trên thấy được nhu cầu chính đáng bởi vì chúng tôi ở nhà thờ chỉ nói lên sự thật, chân lý, không có bất cứ một âm mưu gì khác. Có lẽ là hai bên chưa hiểu nhau, chưa có nhiều cuộc đối thoại để hiểu cho đúng bản chất của sự việc, con người. Tôi nghĩ là chắc có hiểu lầm nhiều chuyện khác nữa”.

Như vậy, trong cả buổi họp đối thoại với bệnh viện Đống Đa lẫn buổi trả lời phỏng vấn sau đó 5 ngày, linh mục Nguyễn Văn Phượng đều là người đề xuất, và nhấn mạnh, việc thiết lập các kênh đối thoại chính thức giữa nhà thờ và các cấp chính quyền, thay vì chỉ đối thoại với bệnh viện Đống Đa. Qua thái độ nhất quán này và những lời lẽ của ông Phượng, có thể thấy nhiều khả năng ông thật sự muốn đối thoại với chính quyền, và tin rằng đường lối đối thoại này sẽ giúp cả hai bên tranh chấp có được điều mình muốn.

Một ngày sau, hôm 16 tháng 11 năm 2011, chính quyền tự ý thi công trạm xử lý nước thải ngay trong đêm, bất chấp mọi kết quả đạt được trong buổi đối thoại 6 ngày trước. Công an bao vây nhà thờ để đảm bảo việc thi công không bị cản trở. Đáp lại, nhà thờ đưa khoảng 300 giáo dân đến canh gác, nhưng không hành động, để tránh gây ra những xung đột khiến họ phải chịu bất lợi (14).

Ngay sau đó, phía nhà thờ trở lại với các hoạt động phản kháng quen thuộc như trước đây. Ngày 18 tháng 11, 11 linh mục do Nguyễn Ngọc Nam Phong và Nguyễn Văn Thật cầm đầu đã đưa 60 giáo dân tụ tập ở trụ sở UBND Thành phố Hà Nội để gửi đơn đòi đất. Sau khi gửi đơn, họ trưng biểu ngữ, biểu tinh quanh hồ Hoàn Kiếm, rồi tiếp tục kéo đến khu vực Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngày 2 tháng 12 năm 2011, linh mục Nguyễn Văn Phượng đưa 80 giáo dân, thuộc hai xứ Thái Hà và Hàm Long, đến trụ sở tiếp dân của UBND thanh phố Hà Nội tại số 34 Lý Thái Tổ để nộp đơn đòi lại khu đất mà Bệnh viện Đống Đa đang sử dụng. Sau đó, ông Phượng còn chỉ đạo giáo dân giơ biểu ngữ, đi vòng quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm để biểu tình. Đáp lại, công an bắt 31 người lên xe bus, rồi đưa về trụ sở để kiểm tra giấy tờ tùy thân, nhằm “phân loại” họ để xử lý (15). Tuy nhiên, khi trả lời phỏng vấn đài RFA sau vụ việc, ông Nguyễn Văn Phượng lại tuyên bố rằng ông và các giáo dân bị bắt khi “đang ra về” sau khi nộp đơn, và làm như thể họ không biểu tình.

Sau vụ này, trạm xử lý nước thải vẫn được xây, và tu viện DCCT Thái Hà vẫn tiếp tục là một trung tâm của các hoạt động chống chế độ. Vào 8 giờ tối ngày Chủ nhật cuối cùng của mỗi tháng, nhà thờ Thái Hà đều tổ chức một buổi lễ đặc biệt mang tên “lễ cầu nguyện vì công lý và hòa bình”, nhằm “dâng lên Thiên Chúa những vấn đề đang xảy ra, nhất là những vấn đề liên quan đến tự do, phẩm giá con người” – nghĩa là để bàn chuyện chính trị. Linh mục Phong và một số tu sĩ khác của DCCT thường dùng các buổi lễ này để công khai diễn thuyết chống chính quyền. Ông Phong và các cộng sự cũng không giấu diếm việc ông chống Cộng. Chẳng hạn, trong buổi “lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình” ngày 30 tháng 7 năm 2017, để giải thích lý do ông Nguyễn Ngọc Nam Phong bị cấm xuất cảnh, linh mục Nguyễn Văn Toản nói như sau:

“Cha Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong đã bị trừng phạt vì tác phong chống cộng sản của ngài”.

 

4. Nhận định về lối thoát khả thi cho cuộc tranh chấp

Qua các dữ kiện đã được đưa ra, có thể thấy vụ tranh chấp đất đai giữa chính quyền Hà Nội và tu viện Thái Hà bắt nguồn từ nhiều tầng lý do khá phức tạp. Ngoài những lý do mang tính lịch sử từ cuối thập niên 1950, như đã trình bày ở một mục trên, còn có ít nhất hai tầng lý do khác.

Thứ nhất là nhu cầu cấp thiết của giáo xứ Thái Hà trong việc mở rộng khuôn viên nhà thờ. Nguyên nhân này được các linh mục Thái Hà trình bày từ khá sớm. Ngay từ ngày 11 tháng 8 năm 2008, khi trả lời phỏng vấn đài RFA, linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong đã khẳng định rằng vì giáo dân ở nông thôn lên thành phố làm việc quá đông, nhà thờ Thái Hà đang bị quá tải (17). Dù nhà thờ này đã tổ chức 5 thánh lễ mỗi ngày Chủ nhật để đáp ứng nhu cầu của giáo dân, nó vẫn phải thêm vào lịch của ngày Chủ nhật một lễ bổ sung nữa. Vì thế, ông Phong cho rằng chính quyền cần trả đất cho tu viện DCCT Thái Hà để mở rộng nhà thờ. Đến năm 2011, khi định mở kênh đối thoại với chính quyền để giải quyết tận gốc các mâu thuẫn quanh chuyện đất đai, linh mục quản xứ Nguyễn Văn Phượng cũng nhắc lại nhu cầu này của xứ.

Tuy nhiên, khó có thể nói rằng nhu cầu mở rộng nhà thờ Thái Hà để đáp ứng nhu cầu dự lễ của giáo dân là nguyên nhân gốc rễ khiến mâu thuẫn bùng nổ. Nếu các linh mục ở Thái Hà thật sự hành động vì nhu cầu của giáo dân, họ sẽ đủ tỉnh táo để nhận ra rằng càng đối đầu với chính quyền, họ càng làm giáo dân khổ, làm tình hình rối rắm hơn, và làm vấn đề trở nên khó giải quyết. Sau 50 năm sử dụng, khu đất mà chính quyền “mượn” của tu viện Thái Hà đã qua tay quá nhiều người, và dính líu đến quyền lợi của quá nhiều người. Nếu tu viện Thái Hà muốn thực hiện thứ “công lý” cứng nhắc của họ, nghĩa là đòi lại toàn bộ khu đất rộng 61.455 m2, họ sẽ phải thuyết phục nhà nước lật lại hàng chục hồ sơ, làm việc với hàng trăm người liên quan trong vụ việc, di chuyển hàng chục cơ quan, và tái định cư cho hàng nghìn người dân đang sống trong khu vực. Thêm vào đó, nếu chính quyền nhượng bộ với tu viện Thái Hà, họ sẽ phải đối mặt với những yêu sách tương tự từ vô số chủ đất cũ khác trên cả nước. Chỉ cần nhìn vào những trở ngại đó, ta đã có thể thấy công cuộc đòi đất của tu viện Thái Hà là một công cuộc bất khả thi. Chẳng có lý do nào để họ tin tưởng vào sự thành công của công cuộc này, trừ phi họ tin rằng khi đi biểu tình để đòi đất đai, họ đang góp phần chuẩn bị cho một cuộc cách mạng đường phố để lật đổ chế độ. Vì vậy, nếu thật sự nghĩ đến các nhu cầu cấp thiết của giáo dân thay, vì nghĩ đến việc lật đổ chế độ để lấy lại khu đất của mình, tu viện Thái Hà nên thỏa hiệp với chính quyền để tìm phương án. Họ hoàn toàn có thể hướng dẫn giáo dân đến làm lễ ở các nhà thờ khác, mở thêm các cơ sở phụ, hoặc xây một công trình có kiến trúc cho phép chứa nhiều người dự lễ hơn. Nhưng vì các linh mục của DCCT Thái Hà đã gạt đi tất cả những phương án đó để tập trung vào các hoạt động đối kháng với chế độ, rõ ràng họ không quan tâm đến nhu cầu thực tiễn của giáo dân, mà chỉ quan tâm đến đất đai, đám đông và danh tiếng của chính mình. Khi bị lôi kéo vào cuộc xung đột giữa DCCT và chính quyền, các giáo dân vô can không tranh đấu vì quyền lợi thiết thực của bản thân, mà chỉ tranh đấu cho quyền lợi chính trị của các tu sĩ lãnh đạo họ.

Vậy vì sao các linh mục của DCCT Thái Hà nhất định phải đối đầu với chính quyền? Nhìn vào các phát ngôn “chống Cộng” công khai của họ trong những “lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình”, có thể thấy họ bị thúc đẩy bởi tầng lý do thứ hai, là mối thù của tu viện Thái Hà nói riêng, và DCCT Việt Nam nói chung, đối với chế độ chính trị hiện tại. Như đã đề cập, mối thù này bắt nguồn từ việc đất đai của tu viện bị “mượn” rồi không trả, các tu sĩ ở lại tu viện sau năm 1954 bị trục xuất hoặc bắt giam rồi chết trong tù, còn các tu sĩ di cư vào Nam bị rơi vào cảnh gia đình ly tán, thân nhân bị phân biệt đối xử. Chính những hận thù đó đã thúc đẩy các linh mục Thái Hà đối đầu với chính quyền đến cùng, tuyên bố rằng mình “chống Cộng” một cách không giấu diếm, và dùng giáo dân cho một cuộc cách mạng lật đổ thay vì lo cho lợi ích của giáo dân. Vì không tự ý thức được rằng mình đang mang hận thù, và để tự thuyết phục bản thân rằng mình đang làm điều đúng, DCCT Thái Hà đã gọi cuộc báo thù của họ là những hành động “vì công lý và hòa bình”.

Qua chuỗi sự kiện, có thể thấy các linh mục Thái Hà đã tham gia cuộc báo thù này ở những mức độ khác nhau. Linh mục chính xứ Nguyễn Văn Phượng, người trực tiếp chịu trách nhiệm đảm bảo quyền lợi của giáo dân, dường như đã có lúc muốn đối thoại với chính quyền để tìm lối thoát thật sự cho các mâu thuẫn. Trong khi đó, ông Nguyễn Ngọc Nam Phong theo đuổi đường lối cứng rắn hơn. Và đặc biệt, mỗi lần một nhóm tu sĩ DCCT Việt Nam đặt ra vấn đề đối thoại với chính quyền, thì “truyền thông Chúa Cứu thế”, một guồng máy do thầy trò Vũ Khởi Phụng – Phạm Trung Thành hồi sinh và trực tiếp nắm giữ trong giai đoạn 2008 – 2015, lại có hành động hoặc phát ngôn để ngăn chặn và dè bỉu cuộc đối thoại đó. Sau khi “truyền thông Chúa Cứu thế” đã phá vỡ đối thoại và qui tụ được một đám đông chống Cộng cả trong lẫn ngoài Công giáo, các tổ chức và cơ chế được dán nhãn “vì công lý và hòa bình” – như Ban Công lý & Hòa bình, Văn phòng Công lý & Hòa bình hay Lễ Cầu nguyện cho Công lý & Hòa bình, sẽ điều động đám đông để thực hiện những hoạt động đối kháng cụ thể, đồng thời phối hợp các hoạt động này với hoạt động của các lực lượng chống Cộng ngoài Công giáo.

Như đã đề cập, các tổ chức và cơ chế dán nhãn “vì công lý và hòa bình” nêu trên cũng ra đời dưới sự đỡ đầu của thầy trò Vũ Khởi Phụng – Phạm Trung Thành.

Xem xét những mối thù của gia đình ông Vũ Khởi Phụng với chế độ hiện tại ở Việt Nam, và vai trò quan trọng của ông trong suốt cuộc đối đầu giữa DCCT và chính quyền, có thể thấy ông Phụng chính là người đã lập ra “phe chủ chiến” vì thù hận trong nội bộ DCCT Việt Nam. Sau khi ông Phụng qua đời, phe này vẫn tiếp tục hoạt động dưới sự dẫn dắt của nhiều gương mặt nổi bật, như Phạm Trung Thành, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Lê Ngọc Thanh, Đinh Hữu Thoại, Nguyễn Văn Toản… Nhóm chủ chiến thù hằn này lại được trợ lực bởi một yếu tố quan trọng, là tính dân túy mang tính nền tảng và bản chất của DCCT trên toàn thế giới. Vì vậy, họ có thể tìm được những nguồn hỗ trợ về mặt tài chính và đào tạo truyền thông rất lớn từ các lực lượng Công giáo nước ngoài, thay vì bị lệ thuộc vào các chính phủ phương Tây, NGO nước ngoài và các tổ chức chống Cộng hải ngoại, như nhiều nhóm đối lập khác ở Việt Nam.

Như vậy, mâu thuẫn giữa chính quyền với tu viện Thái Hà nói riêng và DCCT Việt Nam nói chung gần như không thể giải quyết triệt để.

 

Chú thích:

(1) http://diemtinvn.blogspot.com/2011/11/lich-su-nha-dong-chua-cuu-va-giao-xu.html

(2) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/interview-with-Reverend-Gioan-NguyenNgocNamPhong-in-Hanoi-NTran-08192008155709.html

(3) http://www.bbc.com/vietnamese/lg/vietnam/2009/03/090327_thaiha_final.shtml

(4) http://www.dcvonline.net/2015/05/04/phong-van-lm-dinh-huu-thoai-dcct-sai-gon/

(5) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2011/11/111103_thai_ha_suing

(6) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2011/11/111101_thai_ha_dispute

(7) https://www.voatiengviet.com/a/hanoi-let-thugs-attack-thaihachurch-amid-land-dispute-133229353/911880.html

(8) https://danbaovietnam.wordpress.com/2011/11/04/giao-x%E1%BB%A9-thai-ha-vi-dan-hay-vi-quy%E1%BB%81n-l%E1%BB%A3i-ca-nhan/

(9) http://chuagiacngo.com/khoa-tu-dao-phat-ngay-nay/guong-sang/guong-sang-10-luat-su-le-thanh-son-97515

(10) http://googletienlang2014.blogspot.com/2014/12/vu-thich-chuc-minh-luat-su-le-thanh-son.html

(11) http://hoangthinhatle.com/bai-noi-bat/chuyen-chua-ke-ve-cac-luat-su-trong-vu-viec-tai-dong-tam-lat-tay-bo-mat-that-cua-tran-vu-hai/

(12) https://thanhnienconggiao.wordpress.com/2011/11/14/gx-thai-ha-va-bv-d%E1%BB%91ng-da-d%E1%BB%91i-tho%E1%BA%A1i/

(13) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/tha-parish-expect-dialogue-gov-ka-11152011184313.html

(14) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/police-surround-thaiha-parish-11162011140102.html

(15) http://anninhthudo.vn/chinh-tri-xa-hoi/lo-ro-chieu-bai-kich-dong-gay-roi-cua-cac-giao-sy-thai-ha/426792.antd

(16) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/thai-ha-parish-in-2011-warp-up-12212011064143.html

(17) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/interview-with-Reverend-Gioan-NguyenNgocNamPhong-in-Hanoi-NTran-08192008155709.html

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s