Hồ sơ Nguyễn Quang A

1. Sơ lược quá trình công tác của ông Nguyễn Quang A trước khi thành lập Viện IDS

Nguyễn Quang A sinh tại Quế Võ, Bắc Ninh năm 1946, là con trai duy nhất trong gia đình có cha là liệt sĩ chống Pháp.

Năm 1965, ông được chính quyền cử đi học đại học tại Hungary ngành vô tuyến điện, rồi ở lại học tiếp Phó Tiến sĩ.

Năm 1974, Tổng cục Kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam được thành lập. Viện Kỹ thuật Quân sự, trước đó trực thuộc Tổng cục Hậu cần, được chuyển sang trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật. Ông Trần Đại Nghĩa, Phó Chủ nhiệm đầu tiên của Tổng cục Kỹ thuật, cũng chính là Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), khi tổ chức này ra đời vào năm 1983. Từ năm 1990, VUSTA đã tổ chức “các cuộc hội thảo về đa nguyên, đa đảng”, được chủ trì bởi ông Trần Xuân Bách (1). Trong giai đoạn này, ông Phạm Quế Dương, một gương mặt chính trị đối lập nổi tiếng sau này, là Ủy viên Thường trực của tạp chí Khoa học và Tổ quốc, cơ quan ngôn luận khi đó của VUSTA. Đến năm 2005, ông Chu Hảo, một lãnh đạo Viện IDS, đã bất ngờ nghỉ hưu sớm, trở thành thành viên Hội đồng Trung ương của VUSTA, và thành lập NXB Tri Thức trực thuộc VUSTA trong cùng năm đó. Năm 2007, tại trụ sở VUSTA, ông Hảo và ông Quang A liên tiếp tổ chức các buổi diễn thuyết của Viện IDS.

Năm 1975, Tổng cục Dầu khí Việt Nam được thành lập, sau khi chính quyền miền Bắc tiếp quản các mỏ dầu của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Đến năm 1977, công ty PetroVietnam, trực thuộc Tổng cục Dầu khí được thành lập. Ông Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, có vai trò đặc biệt quan trọng trong thế lực dầu khí mới hình thành này. Cụ thể, trong hai năm 1975 và 1976, ông Thiện liên tiếp đảm nhận thêm một loạt các cương vị quan trọng, như Bí thư Đảng ủy Tổng cục Dầu khí, Bộ trưởng phụ trách công tác dầu khí,  Phó Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch Nhà nước,  Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Thiện cũng là người chọn Vũng Tàu làm nơi đặt trụ sở của Liên doanh Dầu khí Việt – Nga, tức Vietsopetro, vào năm 1981.

Năm 1975, ông Nguyễn Quang A bắt đầu làm việc tại Viện Kỹ thuật Quân sự, trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật của ông Đinh Đức Thiện và ông Trần Đại Nghĩa.

Năm 1982, ông trở lại Hungary làm nghiên cứu sinh cấp cao và bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học chuyên ngành Điện tử Viễn thông.

Ngày 20 tháng 1 năm 1987, ông Đinh Đức Thiện bất ngờ qua đời do tai nạn giao thông. Cũng trong năm này, Viện Kỹ thuật Quân sự chuyến sang trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, thay vì qua một cơ quan trung gian là Tổng cục Kỹ thuật. Trong cùng năm này, ông Nguyễn Quang A rời Quân đội Nhân dân Việt Nam, để chuyển sang làm việc tại Tổng cục Điện tử và Kỹ thuật Tin học Việt Nam. Trong một cuộc phỏng vấn mang tính tâng bốc vào tháng 12 năm 2007, không lâu sau khi Viện IDS ra đời, Nguyễn Quang A cho biết ông ngừng công tác ở Viện Kỹ thuật Quân sự chỉ vì “môi trường quân ngũ không phù hợp” (2). Đây là một lời giải thích đáng ngờ, vì cho đến thời điểm đó, ông đã làm việc liên tục ở Viện Kỹ thuật Quân sự được 12 năm.

Sau đó, ông Quang A chuyển sang làm việc tại Công ty Liên doanh Máy tính Việt Nam Genpacific.

Năm 1989, ông thành lập Công ty Máy tính-Truyền thông – Điều khiển 3C.

Năm 1993, Nguyễn Quang A tham gia sáng lập Ngân hàng ngoài Quốc doanh VP Bank. Đây được xem là một trong 3 ngân hàng tư nhân đầu tiên ở Việt Nam sau năm 1975.

Ngày 25 tháng 4 năm 2007, Bộ Nội vụ Việt Nam ra quyết định thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam – Hungary. Sau đại hội thành lập của Hiệp hội, ông Nguyễn Quang A, với tư cách đại diện của công ty 3C, được bầu làm Chủ tịch của Hiệp hội.

 

2. Những nghi vấn về nhóm lợi ích

Qua bản sơ yếu lý lịch trên, có thể thấy dường như sự nghiệp của Nguyễn Quang A gắn chặt với một nhóm lợi ích trong chính quyền. Xuất phát từ một đơn vị kỹ thuật – công nghệ trong quân đội, nhóm lợi ích này đã dần kiểm soát ngành dầu khí và các mối quan hệ buôn bán với khu vực Liên Xô – Đông Âu trong một giai đoạn lịch sử. Cũng chính nhóm lợi ích này, bằng danh nghĩa VUSTA, đã tổ chức “các cuộc hội thảo về đa nguyên, đa đảng” vào năm 1990, rồi cho ra đời NXB Tri Thức và Viện IDS trong nửa cuối thập niên 2000.

Giả thuyết này có lý. Theo một bản cáo bạch mà VPBank phát hành hồi năm 2010, thì 3 cổ đông lớn nhất của VPBank vào thời điểm đó, cũng là 3 trong tổng số 5 thành viên của Hội đồng Quản trị, đều từng đi học hoặc kinh doanh ở Nga và Đông Âu (3). Họ bao gồm:

_ Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngô Chí Dũng: Ông Dũng học ngành Kinh tế ở Ukraine từ năm 1987 đến năm 1993. Ông từng làm Chủ tịch Tập đoàn KBG ở Nga, cộng tác viên Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ Thông tin Quốc tế tại Nga.

_ Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Bùi Hải Quân: Ông Quân học ngành Kinh tế ở Ukraine từ năm 1987 đến năm 1993. Ông từng làm Giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Jashma ở Ukraine từ năm 1993 đến năm 1998.

_ Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Lô Bằng Giang: Ông Giang học ngành Kinh tế ở Ukraine từ năm 1997 đến năm 2002. Ông từng làm quản lý cao cấp, hoặc thành viên Hội đồng Quản trị của 5 công ty ở Ukraine.

Hai thành viên còn lại trong Hội đồng Quản trị năm 2010 của VPBank chỉ là thành viên độc lập, không giữ chức danh. Tuy nhiên, trong số này, ông Trần Trọng Kiên biết tiếng Nga, và từng giữ chức vụ quan trọng trong 7 công ty du lịch. Người còn lại, ông Soon Tit Koon, là cổ đông nước ngoài duy nhất trong Hội đồng Quản trị, cũng là người duy nhất không liên quan đến khối Đông Âu và Nga.

Trong ba thành viên Ban Kiểm soát của VPBank vào năm 2010, cũng có đến 2 người liên quan đến khối Đông Âu và Nga. Họ bao gồm:

_ Trưởng Ban Kiểm soát Nguyễn Quỳnh Anh: Bà Anh từng học ngành Văn học ở Nga từ năm 1988 đến năm 1994, và học Quản trị Doanh nghiệp ở Nga từ năm 2007 đến năm 2008. Bà từng làm Phó Tổng Biên tập tờ báo của Ủy ban Báo chí Nga, và Giám đốc Tài chính tập đoàn BeePack ở Nga.

_ Thành viên Ban Kiểm soát Vũ Hải Bằng: Ông Bằng học ngành Luật ở Nga từ năm 1986 đến năm 1991. Ông từng làm ở Liên doanh Nga – Việt Nam EUROASIA.

Người còn lại, bà Trịnh Thị Thanh Hằng, là người duy nhất trong Ban Kiểm soát không nắm giữ một cổ phần nào, và cũng là người duy nhất không liên quan đến Đông Âu và Nga.

Ông Lê Đắc Sơn, cổ đông VPBank từ 1994, và Tổng Giám đốc vào năm 2001, cũng từng học và sống ở Ba Lan từ năm 1988 đến năm 2001 (4).

Nhóm lợi ích này đã hình thành như thế nào? Trước khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, được đi Liên Xô và Đông Âu du học là một quyền lợi đáng mơ ước ở Việt Nam. Quyền lợi này được cấp phát bởi các cơ quan, ban ngành trong chính quyền. Vì vậy, ngoài năng lực cá nhân, những người được cử đi học còn cần có quan hệ gắn bó với cơ quan cấp học bổng. Từ trước khi Liên Xô sụp đổ, nhiều người Việt Nam đi du học ở khối Xã hội Chủ nghĩa đã thường xuyên buôn lậu những đồ điện tử lặt vặt để trang trải chi phí, và để gửi tiền về phụ giúp gia đình. Khi kinh tế mở cửa, những người nán lại ở Nga và Đông Âu bắt đầu công khai kinh doanh, với mạng lưới làm ăn đặt nền tảng trên thế lực chính trị đã gửi mình đi học, cùng những đường dây buôn lậu cũ.

Trong bài phỏng vấn mang tên “Nguyễn Quang A – nhà khoa học đi buôn” (2), chính ông A, với tư cách người trong cuộc, đã mô tả những mánh làm ăn chộp giật của các đường dây buôn lậu cũ này vào đầu thập niêm 1990. Cả các công ty buôn bán thiết bị máy tính, điện tử của ông A lẫn ngân hàng VPBank đều không nằm ngoài phạm vi của các đường dây đó.

 

3. Nghi án trốn thuế

Trong bài phỏng vấn vừa nêu, ông A phủ nhận lời cáo buộc rằng mình đã trốn thuế hồi đầu thập niên 1990. Ông thừa nhận rằng công ty 3C của ông đã “chuyên núp bóng quốc doanh để làm ăn với nước ngoài”, và kiếm nhiều tiền nhờ thế. Như vậy, ông đã vi phạm pháp luật, và hoàn toàn có thể bị khép tội trốn thuế. Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn, ông A lờ đi việc đó, và phân trần dài dòng rằng ông bị quy là trốn thuế chỉ vì có tranh chấp với phía quốc doanh trong khâu ăn chia.

Ông A cũng cho biết nhờ Chánh Thanh tra Nguyễn Kỳ Cẩm báo cáo vụ việc này lên Quốc hội, ông A lấy được bản báo cáo, rồi dựa vào đó để “đi khiếu nại khắp nơi”. Sau vài tháng, Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên bố rằng không có vụ trốn thuế nào, và “chỉ đạo không được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng”. Qua việc các ông Nguyễn Quang A và Võ Văn Kiệt không muốn thông tin về vụ việc này được đăng công khai, minh bạch trước công luận, dù chính quyền đã khẳng định rằng không có chuyện trốn thuế, có thể thấy ông Quang A không hẳn là vô tội, và trong vụ việc này vẫn còn nhiều uẩn khúc.

Khó có thể biết ông Nguyễn Kỳ Cẩm có chủ động tác động đến diễn biến của vụ việc này hay không. Tuy nhiên, dù ông Nguyễn Kỳ Cẩm từng là Chánh Thanh tra và Trưởng Ban Chống Tham nhũng, ông lại có tiếng là tham nhũng. Một tài liệu mang tên “Sau bức màn đỏ: Hậu trường chính trị Việt Nam sau năm 1975” có đoạn:

“Tháng 9 năm 1996, khi năm nhân viên cứu hỏa đến chữa cháy một căn nhà ở Sài Gòn, năm người này đã mở một két sắt và lấy đi 47 lạng vàng. Công an điều tra sự việc, và khi 47 lạng vàng được trả lại chủ nhân, lại lòi ra chủ nhân này là Nguyễn Kỳ Cẩm, chủ tịch ủy ban bài trừ tham nhũng cả nước. Vì không thể khai 47 lạng vàng này làm sao có được, Nguyễn Kỳ Cẩm bị mất chức”.

 

Chú thích:

(1) http://phusaonline.free.fr/DienDan/4/84_Gianan.htm

(2) https://www.tienphong.vn/kinh-te/nguyen-quang-a-nha-khoa-hoc-di-buon-104341.tpo

(3) https://www.vpbank.com.vn/sites/default/files/VPB_Documents/ban%20cao%20bach%20vpbank.pdf

(4) http://www.giaithuong.vn/suutam/view/section/bai-viet-doanh-nhan-thoi-ki-doi-moi/content/doanh-nhan-le-dac-son-nguoi-nhac0truong-cua-vpbank.html

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s